Vũ Thị Quế Hương1, Đỗ Quang Hà1, Nguyễn Trọng
Lân2, Nguyễn Thanh Hùng2,
Vơ Đ́nh Thâm3, Claudine Roche4, Eliane Chungue4
và Vincent Deubel5.
Hội Vệ sinh Dịch tễ
I. MỞ ĐẦU
Virút Dengue (DEN) là tác nhân gây dịch quan trọng ở vùng
nhiệt đới và cận nhiệt đới, người ta đă ước tính có trên 250.000 ca dengue xuất
huyết (DXH) và ít nhất có 1 triệu ca sốt DEN đă xảy ra hàng năm(16).
Ở Việt Nam trong hơn ba chục năm qua, DXH đă là vấn đề quan trọng cho sức khỏe
cộng đồng. Các tỉnh phía Nam là vùng lưu hành dịch đă có số mắc và chết do DXH
rất cao(8). Có 4 tưp virút DEN gây bệnh cho người qua vectơ trung
gian là muỗi Aedes aegypti, hiện đă trải rộng khắp Đông Nam Á,
châu Phi, Trung Nam Mỹ và Thái B́nh Dương. Có nhiều dạng lâm sàng khác nhau
trong nhiễm trùng DEN ở trẻ con đi từ nhẹ đến nặng như: sốt không rơ nguyên
nhân, sốt DEN cổ điển, DXH có hoặc không kèm choáng. Tỷ lệ tử vong do DXH tại
các vùng lưu hành DEN từ <1% đến 40%(5). Về điều trị, không có cách
nào khác hơn là bồi hoàn dịch một cách thận trọng(20) và để pḥng
ngừa dịch không có biện pháp nào khác ngoài việc diệt muỗi. Do vậy, việc chẩn
đoán sớm và nhanh chóng có ư nghĩa rất lớn đối với kết quả điều trị bệnh cũng
như góp phần dự báo dịch sớm.
Nhiều tác giả đă ứng dụng phản ứng RT/PCR để phát hiện genome
của virút DEN(4,6,12,13,17,19) từ chủng virút DEN hoặc từ các loại
bệnh phẩm khác nhau (huyết thanh, dịch năo tủy, muỗi). Có tác giả đă chứng minh
được độ nhạy cảm và độ đặc hiệu rất cao của phản ứng nhưng kỹ thuật quá phức tạp
khó áp dụng được trong điều kiện nước ta(6,12). Có tác giả tŕnh bày
phương pháp rất đơn giản, nhanh chóng nhưng lại chưa đánh giá được độ nhạy cảm
của phản ứng trên huyết thanh BN mắc DXH(4,13,17). Do đó, sau khi xây
dựng thành công kỹ thuật RT/PCR ở Labo Arbovirút - Viện Pasteur Tp.HCM năm 1995,
chúng tôi tiến hành việc lượng giá kỹ thuật RT/PCR trên silica và semi-nested
PCR với các primer đặc hiệu cho virút DEN của Lanciotti trong chẩn đoán bệnh DXH
ở miền nam Việt nam cũng như trong t́m hiểu sinh bệnh học của DXH.
Mặt khác, trong sinh bệnh học DEN, phản ứng giữa kháng thể
(KT) DEN tồn lưu và tế bào T là nội dung của giả thuyết miễn dịch tăng cường, đă
giải thích tái nhiễm thường gây ra bệnh nặng hơn sơ nhiễm. Theo giả thuyết này,
các KT không trung ḥa tồn lưu từ lần bị nhiễm DEN trước đó đă tạo thuận lợi cho
virút xâm nhập vào tế bào đơn nhân và đại thực bào mang receptor Fc. Điều này
làm tăng số lượng tế bào mang kháng nguyên (KN) hoạt hóa các tế bào T nhớ, dẫn
đến sự phóng thích các hóa chất trung gian gây thất thoát huyết tương và làm
tăng độ nặng của bệnh(11). Nghiên cứu này có mục đích t́m hiểu mối
liên quan giữa đáp ứng KT và virút trong sinh bệnh học của DEN: Có phải có tưp
virút DEN nào đó thường gây ra bệnh nặng hơn so với những tưp khác Có phải đáp
ứng KT kiểu tái nhiễm có liên quan đến độ nặng của bệnh
II. PHƯƠNG PHÁP
1. Đối tượng nghiên cứu: là bệnh nhi (BN) được
chẩn đoán lâm sàng là DXH theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới, điều trị
tại Khoa Sốt xuất huyết bệnh viện Nhi Đồng 1 (tháng 5 - 8/1995) và Nhi Đồng 2
(tháng 6 - 11/ 1996).
2. Cách lấy mẫu: Các mẫu máu cuả BN được lấy liên tiếp hàng ngày
từ lúc nhập viện đến khi xuất viện, trung b́nh 1 BN lấy được 5 mẫu máu. Máu toàn
phần được chuyển ngay trong lạnh đến labo Arbovirút viện Pasteur Tp.HCM. Tại
đây, máu được quay ly tâm 2500 ṿng/phút - 20 phút ở 4oC, tách lấy
huyết thanh, chia vào nhiều ống nghiệm nhỏ và cất -70oC cho tới khi
làm xét nghiệm.
3. Phương pháp:
3.1. Chẩn đoán huyết thanh học:
Phản ứng ngăn ngưng kết hồng cầu (HI) và phản ứng miễn dịch
men thu bắt IgM (MAC-ELISA) được tiến hành theo Clarke và Casal(2)
và Kuno(15).
3.2. Phân lập virút trên nuôi tế bào muỗi ḍng C6/36:
Huyết thanh BN mắc DXH được cấy vào nuôi tế bào Aedes
albopictus ḍng C6/36. Sau 7 ngày, tiến hành định loại virút bằng phản ứng
miễn dịch huỳnh quang trực tiếp (DFA) dùng IgG kháng flavivirút gắn fluorescein
isothiocyanate và gián tiếp (IFA) dùng các kháng thể đơn gịng Dengue-1 Hawaii
15F3-1-15 và D2-1F1-3, Dengue-2 NGC 3H5-1-21, Dengue-3 H87 5D4-11-24 và Dengue-4
H241 1H10-6-7 do Trung tâm pḥng chống dịch Colorado, Hoa Kỳ cung cấp.
3.3. RT/PCR trên silica: Tiến hành toàn bộ phản ứng
trong 1 tube duy nhất.
3.3.1 Chiết xuất ARN: Từ 10 ml huyết thanh BN, ARN của virút được chiết
xuất theo phương pháp Boom, HT được ly giải trong dung dịch L6 (chứa Guanidine
isothiocyanate và Triton X-100) với sự hiện diện của silica. Sau đó, rửa cặn
silica lần lượt với dung dịch L2 (chứa Guanidine isothiocyanate), ethanol 70% và
dung dịch đệm RT lạnh.
Tŕnh tự gen của các primer
oligonucleotide tổng hợp
|
Primers
|
Tŕnh tự gen
|
Chiều dài của sản phẩm PCR (bp)
|
|
D1(+)
|
TCAATATGCTGAAACGCGCGAGAAACCG
|
D1 - D2 = 511 bp
|
|
D2(-)
|
TTGCACCAACAGTCAATGTCTTCAGGTTC
|
|
|
TS1(-)
|
CGTCTCAGTGATCCGGGGG
|
D1 - TS1 = 482 bp
|
|
TS2(-)
|
CGCCACAAGGGCCATGAACAG
|
D1 - TS2 = 119 bp
|
|
TS3(-)
|
TAACATCATCATGAGACAGAGC
|
D1 - TS3 = 290 bp
|
|
TS4(-)
|
CTCTGTTGTCTTAAACAAGAGA
|
D1 - TS4 = 392 bp
|
D1, D2:
primers dùng chung cho cả 4 tưp dengue.
TS1, TS2,
TS3, TS4: primer đặc hiệu riêng cho từng tưp huyết thanh dengue.
3.3.2. Tổng hợp ADN bổ sung (cADN): Các đoạn mồi
(primer) oligonucleotide được tổng hợp tại Unité de Chimie Organique của Viện
Pasteur Paris. Primer D2 được bổ sung cho tŕnh tự gen chung của cả 4 tưp huyết
thanh dengue. Sợi cADN đầu tiên có được bằng cách sao chép ngược
(reverse transcriptase=RT) ARN virút với 250 nmole primer D2 trong dd đệm RTS
10X, chứa 10 đơn vị RNasin (Promega), 250 mM
dNTP và 6 đơn vị men sao chép ngược của virút gây u tủy ở chim (Promega) (AMV
Rtase = avian myeloblastosis virus reverse transcriptase). Phản ứng này được ủ 1
giờ ở 42C.
3.3.3 Khuếch đại cADN bằng phản ứng PCR.
Sản phẩm cADN được cho vào 50 ml là thể tích cuối cùng chứa các dung dịch đệm Taq 10X (Gibco
BRL), 25 mM MgCl2 (Gibco BRL), 5 mM dNTP, 50 pmoles primer D1, 50 pmoles primer
D2 và 2 đơn vị men Thermus aquaticus (Taq) polymerase (Gibco BRL). Việc
khuếch đại được thực hiện trong máy Crocodile III theo chương tŕnh 21 (gồm 1
chu kỳ biến tính = denaturation ở 94C - 3 phút, tiếp theo là 35 chu kỳ (biến tính = denaturation ở 94C
- 30 giây, bắt cặp = annealing ở 53C -
90 giây và kéo dài = elongation ở 72C -
60 giây) và ở chu kỳ cuối cùng, mẫu được duy tŕ ở 72C - 10 phút.
3.4. Định tưp virút DEN bằng phản ứng "semi-nested-PCR"
với các primers nucleotide đặc hiệu của Lanciotti.
4 ml sản phẩm
PCR pha loăng 1:100 được cho vào 50 ml
là thể tích cuối cùng của hỗn hợp khuếch đại (tương tự như trên) chỉ thay primer
D2 bằng 4 primers (TS1, TS2, TS3 và TS4) đặc hiệu riêng cho từng tưp huyết thanh
dengue. Sự khuếch đại được tiến hành trong máy Crocodile III theo chương tŕnh
22 (gồm 1 chu kỳ biến tính = denaturation ở 94C
- 5 phút, tiếp theo là 25 chu kỳ (biến tính = denaturation ở 94C
- 30 giây, bắt cặp = annealing ở 55C - 1
phút và kéo dài = elongation ở 72C - 2
phút) và ở chu kỳ cuối cùng, mẫu được duy tŕ ở 72C - 10 phút.
Điện di sản phẩm PCR lần 2 trên thạch 1,5 - 2 % trong
TBE có chứa ethidium bromide 20 - 30 phút ở 120 volt và định tưp virút dengue
dựa trên kích thước các dải ADN theo từng đôi base.
4. Các định nghĩa:
Ngày nói trong nghiên cứu được tính từ ngày BN bắt đầu sốt.
Chỉ những BN đă được xác định bằng virút học hoặc huyết thanh học(8)
mới được xếp vào nhóm nghiên cứu và chỉ tính thời gian nhiễm virút huyết trong
những ca có RT-PCR dương tính.
- Phân tích so sánh các kết quả dựa trên các thử nghiệm thống
kê c2-test và F-test với
ngưỡng giá trị là 5%.
III. KẾT QUẢ
Từ tháng 5-8/1995 và tháng 6-11/1996, trong 110 BN được lựa
chọn đă có 99 BN (90%) được chẩn đoán xác định nhiễm DEN bằng virút học và/hoặc
huyết thanh học. Độ nặng nhẹ về lâm sàng cuả các BN này được ghi trong bảng 1,
phần lớn BN có độ tuổi nằm trong khoảng 5-9 tuổi (53%), kế đó là lứa tuổi 10-14
(27%) và 0-4 (15%). BN nam (66%) nhiều hơn nữ (34%).
Bảng 1: Chẩn đoán lâm sàng, tuổi và giới tính của các BN
là đối tượng nghiên cứu
|
Chẩn đoán ĐXH
|
Số BN
|
Tuổi trung b́nh, năm
|
Giới tính (% nam)
|
|
Nhiễm siêu vi
|
11
|
7,1 (1-10)
|
54
|
|
độ I
|
3
|
6,0 (5-7)
|
33
|
|
độ II
|
36
|
8,3 (2-15)
|
53
|
|
độ III
|
53
|
7,8 (0,66-15)
|
66
|
|
độ IV
|
7
|
7,3 (4-11)
|
57
|
Bảng 2: Tỷ lệ phân lập virút và
RT-PCR dương tính cuả các BN bị sơ, tái nhiễm
|
Huyết thanh học
|
Số phân lập virút dương tính (%)
|
Số RT-PCR dương tính (%)
|
|
Sơ nhiễm
|
4 (20)
|
14 (70)
|
|
Tái nhiễm
|
5 (6,3)
|
27 (34,2)
|
|
Cộng
|
9 (9,1)
|
41 (41,4)
|
Bảng 3: So sánh khả năng phát hiện bệnh DXH của RT-PCR và
Mac-ELISA.
|
Ngày sốt
|
Số HT thử nghiệm
|
Mac-ELISA (+)
|
RT-PCR (+)
|
|
2
|
1
|
1
|
0
|
|
3
|
7
|
2 (29%)
|
6 (86%)
|
|
4
|
24
|
10 (42%)
|
17 (71%)
|
|
5
|
51
|
22 (43%)
|
22 (43%)
|
|
6
|
50
|
28 (56%)
|
6 (12%)
|
|
7
|
50
|
31 (62%)
|
2 (4%)
|
|
8
|
48
|
32 (67%)
|
1 (2%)
|
|
9
|
43
|
27 (63%)
|
1 (2%)
|
|
010
|
32
|
24 (75%)
|
0
|
|
11
|
7
|
7 (100%)
|
0
|
Kết quả phân lập virút và RT-PCR được tŕnh bày trong bảng 2.
Ở 9 BN t́m ra virút th́ đồng thời cũng có RT-PCR dương tính.
Hơn nữa, RT-PCR c̣n phát hiện thêm 32 ca mà phân lập virút cho kết quả âm tính.
Khả năng phát hiện virút DEN bằng RT-PCR cao hơn phân lập virút khá nhiều, 41 ca
RT-PCR (+) so với 9 chủng virút DEN được t́m ra. Kết quả này một lần nữa xác
nhận RT-PCR có độ nhạy cảm cao trong chẩn đoán nhanh và sớm bệnh DXH (c2-test, p = 0,0000002)(19). Ngoài ra,
trong nghiên cứu này c̣n thấy RT-PCR phát hiện virút DEN ở những BN bị sơ nhiễm
cao hơn ca tái nhiễm (c2-test,
p = 0,003) trong khi đó với kỹ thuật phân lập virút đă không t́m thấy sự khác
biệt rơ rệt này (F-test, p = 0,07).
Kết quả cho thấy độ nhạy cảm rất cao của RT-PCR trong việc
phát hiện bệnh DXH trong ṿng 4-5 ngày sau sốt. Ngược lại, với những mẫu huyết
thanh lấy sau ngày sốt thứ 5 th́ Mac-ELISA cho tỷ lệ dương tính hơn hẳn. Điều
này càng nêu bật lên ưu điểm của RT-PCR trong chẩn đoán sớm bệnh DXH so với các
phương pháp chẩn đoán khác.
Các tưp virút gây bệnh của 41 BN phát hiện bằng RT-PCR được
tŕnh bày trong bảng 4. Trong 1995, mẫu lấy ở BV Nhi Đồng I chủ yếu tập trung
vào các BN có bệnh cảnh lâm sàng nặng, thường kèm sốc; v́ thế chúng tôi chỉ so
sánh số liệu cuả các mẫu lấy ở BV Nhi Đồng 2, 1996. Về vai tṛ của các tưp DEN
gây ra các bệnh cảnh lâm sàng của DXH, chúng tôi không t́m thấy mối tương quan
có ư nghĩa thống kê giữa tưp virút và độ nặng nhẹ của bệnh (c2, P = 0,6) (Bảng 4), mặc dù tại bệnh viện
Nhi Đồng 2, DEN-2 dường như gây ra sốc nhiều hơn DEN-1 và DEN-3.
Thời gian nhiễm virút huyết được phát hiện dài nhất là 9 ngày
chỉ quan sát được trong 1 BN duy nhất bị nhiễm DEN-3. Trong khi đó, 90% BN
(37/41) có thời gian nhiễm virút huyết kéo dài từ 4-6 ngày và thời gian nhiễm
virút huyết trung b́nh của các ca nghiên cứu là khoảng 5 ngày.
Các số liệu trong bảng 6 cho thấy không có mối liên hệ rơ rệt
giữa thời gian nhiễm virút huyết trung b́nh với độ nặng của bệnh đối với bất kỳ
tưp virút DEN nào (F-test, p = 0,45).
Mối
liên quan giữa thời gian nhiễm virút huyết trung b́nh, t́nh trạng sơ tái nhiễm
cuả BN và tưp virút được tŕnh bày trong bảng 7.
Ở những BN bị tái nhiễm, thời gian nhiễm virút huyết trung
b́nh của cả 3 tưp DEN hơi ngắn hơn so với các BN bị sơ nhiễm, tuy nhiên sự khác
biệt này không có ư nghĩa thống kê.
IV. BÀN LUẬN
Hai phương pháp chẩn đoán bệnh DXH trong pḥng thí nghiệm
đáng tin cậy là phản ứng huyết thanh học và phân lập virút. Tuy nhiên, việc phân
lập virút trên nuôi tế bào đ̣i hỏi thời gian ít nhất là 1 tuần và các phản ứng
huyết thanh học chỉ được tiến hành sau khi có sự gia tăng hiệu giá kháng thể. V́
thế, các phương pháp này cho đến nay không giúp ích ǵ nhiều cho các nhà lâm
sàng. Nhiều nhóm nghiên cứu DEN đă nhất trí về khả năng chẩn đoán nhanh bệnh DXH
của phản ứng RT/PCR trên các mẫu HT BN mắc DXH với độ nhạy cảm là 75%(6)
và 54%(12) và độ đặc hiệu là 100%(4,6,12,13). Do đó kết
quả đạt được trong nghiên cứu này hoàn toàn phù hợp với các nghiên cứu trước
đây.
Kỹ
thuật chiết xuất ARN virút dựa trên Guanidine isothiocyanate và silica được tác
giả Boom triển khai năm 1990(1) đă giúp rút ngắn được thời gian thử
nghiệm. Đồng thời, các cặp primer đặc hiệu cho nhóm virút DEN và cho từng tưp
virút DEN của Lanciotti(13)
chứng tỏ có độ đặc hiệu rất cao (93% - 100% tùy theo tưp virút DEN). Do đó,
trong điều kiện nước ta, việc ứng dụng hai kỹ thuật trên để chẩn đoán nhanh bệnh
DXH là rất cần thiết. Hơn nữa, RT/PCR có giá trị lớn trong chẩn đoán nhanh các
ca DXH nặng, khi lượng virút đă giảm nhiều trong máu nên phân lập virút phần lớn
sẽ âm tính. Sự nhanh chóng của thử nghiệm RT/PCR trên silica (cho phép định tưp
virút sau 10 giờ và chỉ cần lượng huyết thanh rất ít khoảng 10 l) cho thấy tính
ưu việt của kỹ thuật này so với phương pháp phân lập virút dùng nuôi tế bào. Mặt
khác, kỹ thuật RT/PCR trên silica phát hiện virút DEN từ huyết thanh BN, trong
4-5 ngày đầu khởi bệnh, nhạy gấp 10 lần so với kỹ thuật nuôi tế bào, phù hợp với
kết quả của Deubel(6), trong những mẫu mà virút đă được chuẩn độ th́
PCR cũng nhạy gấp 20 lần hơn. Qua những kết quả sơ bộ như trên, chúng tôi có thể
kết luận rằng RT/PCR trên silica góp phần quan trọng trong việc chẩn đoán nhanh
bệnh DXH cũng như trong các nghiên cứu về sinh bệnh học bệnh sốt xuất huyết do
virút DEN gây ra.
Nhiễm virút huyết là một khía cạnh quan trọng trong dịch tễ
học của nhiễm trùng DEN nhưng chưa được khảo sát rộng răi. Điều quan trọng là v́
lượng virút lưu hành trong máu BN song hành với mật độ và tiềm năng của quần thể
muỗi vectơ có ảnh hưởng đáng kể đến động lực lan truyền virút. Hơn nữa, mức độ
nhiễm virút huyết ở BN có thể liên quan đến độ nặng của bệnh(10).
Vaughn đă chứng minh rằng nhiễm virút huyết xuất hiện rất sớm trong giai đoạn
sốt, giảm nhanh khi sốt hạ và kháng thể tăng(18). Kuberski và CS đă
phân lập virút DEN-1 trong 73% BN vào ngày thứ 1 của bệnh và tỷ lệ giảm cho đến
không thể phân lập được virút sau ngày thứ 6(14). Gubler cũng ghi
nhận rằng phân lập virút dương tính ở ca sơ nhiễm thường gặp hơn ca tái nhiễm(9).
Kết quả phân lập virút của chúng tôi bị hạn chế do tùy thuộc
rất nhiều vào việc lấy mẫu ở bệnh viện. Chúng tôi có rất ít mẫu máu lấy vào ngày
thứ 3 của bệnh và đa số mẫu đầu tiên đều rơi vào ngày thứ 4 và thứ 5 của bệnh.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đă sử dụng kỹ thuật RT-PCR để theo dơi thời gian
nhiễm virút huyết của DEN. Thời gian nhiễm virút huyết điển h́nh của các BN ở
đây là 4-5 ngày, đă phù hợp với các nghiên cứu trước đây(9,18). Tương
tự như Gubler, Kuberski và Vaughn, số liệu của chúng tôi cũng cho thấy không có
sự khác biệt có ư nghĩa thống kê giưă thời gian nhiễm virút huyết ở BN sơ nhiễm
và tái nhiễm. Thời gian nhiễm virút huyết trung b́nh của cả 3 tưp DEN cũng gần
giống nhau, hơi ngắn hơn ở BN nhiễm DEN-2 (4,6 ngày) và như nhau với DEN-1 và
DEN-3 (5,2 ngày). Thời gian nhiễm virút trung b́nh của 41 BN là 5 ngày.
Có tác giả cho rằng có vài tưp virút như DEN-2 và DEN-3 dường
như đă gây ra bệnh nặng hơn. Tuy nhiên ở Indonesia, Gubler đă không thể chứng
minh mối liên quan giữa tưp virút với độ nặng nhẹ của bệnh và chúng tôi cũng t́m
thấy kết quả tương tự trong nghiên cứu này. Khi các BN bị nhiễm với từng tưp
virút riêng biệt, chúng tôi đă không thấy có sự khác nhau đáng kể nào trong thời
gian nhiễm virút huyết giữa các BN bị DXH nhẹ và nặng.
Tuy nhiên, các nhận xét trên đây mới chỉ là bước đầu dựa trên
99 ca nghiên cứu. Chúng tôi hy vọng trong tương lai không xa với điều kiện vật
chất kỹ thuật thuận lợi hơn sẽ cho phép chúng tôi tiếp tục nghiên cứu với số ca
nhiều hơn và định lượng virút gây nhiễm để có thể rút ra những kết luận mang
tính thuyết phục hơn.
Tài liệu tham khảo
1.
Boom, R., Sol, C.J.A., Salimans,
M.M.M., Jansen, C.L., Wertheim-van-Dillen, P.M.E., Van der Noordaa, J. (1990):
Rapid and simple method for purification of nucleic acids. J. Clin. Microbiol.,
28: 495-503.
2.
Clarke, D., Casals, J. (1958):
Techniques for hemagglutination and hemagglutination-inhibition with
arthropod-borne viruses. Am. J. Trop. Med. and Hyg., 7:561-573.
3.
Chomczynski, P. and Sacchi, N.
(1987): Single-step method of RNA isolation by acid guanidinium
thiocyanate-phenol-chloroform extraction. Anal. Biochem., 162: 156-159.
4.
Chungue, E., Roche, C., Lefervre,
M.F., Barbazan, P., Chanteau, S. (1993): Ultra-Rapid, Simple, Sensitive, and
Economical Silica Method for Extraction of Dengue Viral RNA From Clinical
Specimens and Mosquitoes by Reverse Transcriptase-PCR. J. Med. Virol., 40:
142-145.
5.
Cohen S., Halstead S.B. (1966):
Shock associated with dengue infection I. Clinical and physiologic
manifestations of dengue hemorrhagic fever in Thailand, 1964. J. Pediatr.,
68: 448-456.
6.
Deubel, V., Laille, M., Hugnot,
J.P., Chungue, E., Guesdon, J.L., Drouet, M.T., Bassot, S. and Chevrier (1990):
Identification of dengue sequences by genomic amplification: rapid diagnosis of
dengue virus serotypes in peripheral blood. J. Virol. Methods, 30: 41-54.
7.
Do Quang Ha, Nguyễn Kim Tiến,
Dinh Tuyết Hoa, Vu Thi Que Huong, Nguyen Trong Lan, Vo Dinh Tham, Nguyen Thi
Hong (1989): Epidemic DHF in South Vietnam, 1987. Dengue Bulletin, WHO,
14: 46-57.
8.
Do Quang Ha, Vu Thi Que Huong,
Huynh Thi Kim Loan, Pham Kim Sac (1996): Dengue Haemorrhagic Fever in South
Vietnam, 1991-1994. Dengue Bulletin, 20: 55-61.
9.
Gubler D.J., Suharyono W., Tan
R., Abidin, M., Sie, A. (1981): Viraemia in patients with naturally acquired
dengue infection. Bull WHO, 59: 623-630.
10.
Gubler D.J., et al. (1978):
Epidemiologic, clinical and virologic observations on dengue in the Kingdom of
Tonga. Am. J. Trop. Med. Hyg. 27: 581-589.
11.
Halstead S.B., ORourke E.J.
(1977): Dengue viruses and mononuclear phagocytes. I. Infection enhancement by
non-neutralising antibody. J. Exp. Med., 146:201-217.
12.
Henchal, E.A., Polo, S.L., Vorndam,
A.V., Yaemsiri, C., Innis, B.L., Hoke, C.H. (1991): Sensitivity and specificity
of a universal primer set for the rapid diagnosis of dengue virus infections by
polymerase chain reaction and nucleic acid hybridization. Am. J. Trop. Med.
Hyg., 45: 418-428.
13.
Lanciotti, R.S., Calisher, C.H.,
Gubler, D.J., Chang, G.J., Vorndam, A.V. (1992): Rapid detection and typing of
dengue viruses from clinical samples by using reverse transcriptase-polymerase
chain reaction. J. Clin. Microbiol., 30: 545-551.
14.
Kuberski T., Rosen L., Reed D.,
Nataika J. (1977): Clinical and laboratory observations on patients with primary
and secondary dengue type 1 infections with hemorrhagic manifestations in Fiji.
Am. J. Trop. Med. Hyg., 26: 775-783.
15.
Kuno, G., Gomez, I., Gubler, D.J.
(1987): Detecting artificial anti-dengue IgM immune complexes using an
enzyme-linked immuno sorbent assay. Am. J. Trop. Med. Hyg., 36: 153-159.
16.
Monath T.P. (1994): Dengue: the
risk to developed and developing countries. Proc. Natl. Acad. Sci. USA,
91: 2395.
17.
Morita. K., Maemoto, T., Honda, S.
Onishi, K., Murata, M., Tanaka, M., Igarashi, A. (1994): Rapid Detection of
Virus Genome From Imported Dengue Fever and Dengue Hemorrhagic Fever Patients by
Direct Polymerase Chain Reaction. J. Med. Virol., 44: 54-58.
18.
Vaughn D.W., Green S.,
Kalayanarooj S., Innis B.L., Nimmannitya S., Suntayakorn S., Rothman A.L., Ennis
F.A., Nisalak A. (1997): Dengue in the Early Febrile Phase: Viremia and Antibody
Responses. The Journal of Infectious Diseases, 176: 322-330.
19.
Vu Thi Que Huong, Huynh Thi Kim
Loan, Do Quang Ha, Nguyen Trong Lan, Nguyen Thanh Hùng, Vincent Deubel (1997):
Detection of dengue virus by Reverse Transcription / Polymerase Chain Reaction.
Med J HCM city , 2: 2-4 (in vietnamese).
20.
World Health Organization
(1986): Dengue haemorrhagic fever: diagnostic, treatment and control. Geneva:
WHO, 1-58.