RỐI LOẠN CHỨC
NĂNG TRONG CÁC BỆNH MẠCH MÁU
I- TRONG CÁC BỆNH CỦA ĐỘNG
MẠCH
1. Rối loạn chức năng.
Tuỳ
theo các nhân tố từ trong ḷng động mạch hoặc từ bên ngoài tác động đến. Ví dụ
nhân tố cơ giới (chấn thương thành mạch, tắc mạch), nhân tố tinh thần, lạnh, nóng, hoá
chất,v.v… làm tổn thương động mạch hay
làm rối loạn thần kinh vận mạch, ta gặp
các triệu chứng sau:
a. Tê các ng̣n tay: cảm giác này thỉnh thoảng xảy ra nhất là
về mùa lạnh, ngón tay, ngón chân đột nhiên trắng
nhợt, lạnh đi và tê, mất cảm giác. Hiện
tượng này do co thắt mạch máu ở các ngón.
Tuỳ thoe vị trí động mạch bị co thắt
sẽ thể hiện ra các triệu chứng sau:
- Người bệnh bị mù thoáng qua
nếu động mạch đá mắt co thắt.
- Người bệnh bị bại
một chi. Nửa thân, nói khó, tri giác mất thoáng qua nếu
động mạch năo co thắt.
b. Dấu hiệu đau cách hồi: người bệnh khi đi hơi xa
có cảm giác chuột rút bắp chân, đau bắp chân,
phải đứng lại nghỉ, xoa bóp chân thấy các
triệu chứng đở dần; khi tiếp tục
đi lại thấy các triệu chứng đó xuất
hiện, về sau khi bệnh tiến triển,
người bệnh đau ngay cả khi nghỉ ngơi.
Người ta đă chứng minh cơ chế của
hiện tượng này là do thiếu máu cục bộ kho
cố gắng, v́ vậy khi nghỉ ngơi th́ hết
đau.
2. Chảy máu:
Do
vỡ mạch. Người bệnh có thể chảy máu
mũi, chảy máu vơng mạc (gây giảm thị lực
trầm trọng), chảy máu năo (gây liệt nửa thân, hôn
mê, có thể dẫn tới tử vong).
3. Hội
chứng Raynaud:
Đây làm một cơn đau khi gặp lạnh. Cơn đau đó có đặc điểm là:
- Hay gặp ở các ngón tay (ít khi ở
chân).
- Ngón tay tê buồn rồi tim nhợt,
mất cảm giác.
- Có thể khỏi hoặc tiến
tới cơn đau dữ dội hơn, lúc ấy có
cảm giác ngón tay bị rắn cắn hay bị gàmổ.
- Nhúng tay vào nước nóng, người
bệnh thấy đỡ đau.
- Cơn đau có thể từ vài phút
tới vài giờ.
- Nếu bị nhiều lần th́ về
sau tiến tới hoại thư đầu chi.
Người ta cho rằng cơn đau xuất hiện do cơ thắt
động mạch nhỏ, chính v́ vậy khi nhúng tay vào nước nóng
II- TRONG CÁC BỆNH CỦA TIM MẠCH.
Rối loạn
chức năng:
khi tĩnh
mạch bị giăn, bị viêm, bị tắc, th́ tuỳ theo
tổn thương sẽ làm trở ngại chức
năng tuần hoàn tĩnh mạch thể hiện ra các
triệu chứng:
a. Đau
dọc tĩnh mạch: trong trường hợp viêm tắc
tĩnh mạch chi dưới (hay xảy ra sau phẫu
thuật vùng đáy chậu, sau đẻ, sau chấn
thương), người bệnh bị sốt,
mạch nhanh, mệt mỏi. Nhưng chủ yếu là
đan với những tính chất sau: - Đau có thể tự phát. Mức
độ có thể từ cảm giác kiến ḅ, cảm
giác năng chi cho đến mức đau dữ dội
ở bắp chân. Có khi đau kịch phát; ấn vào gót chân
cẳng chân hoặc đập mạnh vào các ngón chân làm
người bệnh rất đau.
- Đau lan thông thường theo
hướng tĩnh mạch (tĩnh mạch hiển,
tĩnh mạch đùi, tĩnh mạch khoeo), cũng có khi
chỉ khu trú ở một đoạn chi.
b. Phù
chi: Trong
trường hợp viêm tắc tĩnh mạch chi, chính
v́ rối loạn thần kinh vận mạch và tắc
tĩnh mạch (thường phối hợp với
tắc tân mạch) nên sinh ra phù. Trong các trường
hợp tân dịch không lưu thông, áp lực keo của
dịch khe tăng lên làm người bệnh phù. Phù
trong viêm tắc tĩnh mạch là loại phù trắng và
đau, có thể thấy h́nh tĩnh mạch nổi lên da,
nom như một đường xanh nhạt, phù này
thường không để lại dấu lơm lọ
mực khi ấn vào.
c. Cảm
giác nặng chi dưới: trong trường hợp giăn tĩnh
mạch. Có khi biến chứng loét chỗ tĩnh
mạch giăn hoặc viêm tĩnh mạch ở đó. |