KHÁM TIM: CÁC PHƯƠNG PHÁP LÂM SÀNG
I. HỎI
BỆNH
Người bệnh tim thường biểu hiện một số triệu chứng do rối loạn chức năng tim,
các triệu chứng đó là: khó thở, ho ra máu, tím tái, phù, đau trước tim, hồi hộp,
ngất… (xem bài rối loạn chức năng trong bệnh tim mạch).
Trong
khi hỏi bệnh, ta cần khai thác các triệu chứng
trên và lưu ư thêm một số vấn đề sau:
- Lúc nhỏ, người bệnh có
tật bẩm sinh ǵ không?
- Trước kia người bệnh có
bị thấp khớp không?
- Nghề nghiệp và điều kiện
làm việc của người bệnh có căng thẳng
quá không? Có phải tiếp xúc với chất độc ǵ
không?
- T́nh trạng thần kinh như thế
nào? Mục đích là để xác định một
số triệu chứng tim mạch mà nguyên do thuộc
về thần kinh tâm thần như rối loạn
thần kinh tim, tim kích động.
- Người bệnh có hay dùng nhiều
chè, rượu, cà phê, thuốc lá không? (v́ những thứ
này đều ảnh hưởng đến hoạt
động của tim mạch).
- Có rối loạn ǵ về hệ
nội tiết tố không ? đặc biệt ở
phụ nữ như trong giai đoạn măn kinh chẳng
hạn.
II- KHÁM THỰC THỂ
A- NH̀N
Tư
thế người bệnh: người bệnh nằm
đầu và lưng gối hơi cao, hai chân co, cởi
khuy áo để bộc lộ cả ngực
trước. Y sinh ngồi bên trái người bệnh
(trong cả quá tŕnh khám tim) hoặc bên phải cũng
được. Quan
sát: trước
hết xem người bệnh có khó thở không? Có phù
không? T́nh trạng tinh thần như thế nào? Có lo
lắng hoảng hốt không? Sau đó: - Nhận xét màu sắc da và niêm mạc
người bệnh: môi
tím, trong các bệnh tim bẩm sinh, trong suy tim. Ngón tay và ngón
châm dùi trống gặp trong các bệnh tim bẩm sinh
hoặc viêm màng trong tim bán cấp và một số bệnh
phổi mạn tính hoặc u phổi.
- Nhận xét h́nh dạng lồng ngực: lồng ngực dô ra trước
ở những người có bệnh tim từ bé v́ lúc
đó sự cốt hoá chưa hoàn toàn nên lồng ngực
dễ biến dạng. Ở trẻ em bị tràn dịch
màng ngoài tim, lồng ngực cũng hơi phồng.
- Nhịp đập của tim: ở những người b́nh
thường ta có thể thấy mỏm tim đập
dưới vú trên đường giữa xương
đ̣n vào khoảng liên sườn 4-5. mỏm tim
đập mạnh trong trường hợp thất trái to
hoặc tim to toàn bộ, mỏm tim đập yếu trong
trường hợp tràn dịch màng ngoài tim hoặc ở
những người béo có thành ngực dày.
- Ở những người bị túi
ph́nh động mạch chủ: ta có nh́n thấy một khối u đập ở
khoảng gian sườn 2 sát hai bên xương ức,
khối u đập theo nhịp tim.
- Vùng cổ:
*
Tĩnh mạch cổ nổi trong suy tim phải,
động mạch cổ đập mạnh trong bệnh
hở van động mạch chủ.
*
Cần khám xem tuyến giáp trạng có to không? V́ có một
số người bị cường tuyến giáp có
biến chứng tim.
- Vùng thượng vị và vùng hạ
sườn phải: có
thể thấy vùng thượng vị đập theo
nhịp tim khi tim phải to, khi suy tim phải hoặc suy tim
toàn bộ: gan thường to ra, ta nh́n thấy vùng hạ
sườn phải dày hơn bên kia.
Phương
pháp nh́n chỉ cho thấy sơ bộ một số
biểu hiện của bệnh tim cho nên cần phải
bổ sung bằng các phương pháp khác.
B- PHƯƠNG PHÁP
T́m mỏm tim: sờ mỏm tim ở hai tư
thế: nằm ngửa và nghiêng sang trái.
B́nh thường
mỏm tim đập ở khoảng liên sườn 4,5 trên
đường giữa xương đ̣n bên trái. Muốn
sờ mỏm tim, ta dùng ḷng bàn tay áp sát vào lồng ngực
chỗ mỏm tim. Mỏm tim có thể thay đổi
về: a. Vị trí: - Thay đổi sinh lư: nằm nghiêng sang trái mỏm tim sẽ
lệch sang trái khoảng hai khoát ngón tay, ở tư thế
này sờ thấy mỏm tim rơ nhất. Khi nằm nghiêng sang
phải: mỏm tim lệch sang phải rất ít.
- Thay đổi bệnh lư: trong trườn ghợp bệnh lư tim
to ra, mỏm tim thấp xuống dưới hoặc ra ngoài
đường giữa đ̣n trái. Trong các trường
hợp tràn dịch và tràn khí nhiều ở màng phổi
một bên, tim bị đẩy sang bên kia. Trườn
ghợp dày dính màng phổi và màng tim, tim sẽ bị co kéo
về phía viêm dày dính, nếu chỉ có các màng tim dính vào nhau
và dín với phổi tiếp cận th́ điện tim
nhỏ lại và mỏm tim không đổi vị trí dù
người bệnh thay đổi tư thế.
Trường hợp có tràn dịch màng
bụng nhiều hoặc có khối u to trong bụng cơ
hoành bị đẩy cao lên và mỏ tim cũng thay
đổi vị trí: tim ở tư thế nằm ngang.
b. Cường
độ: - Mỏm tim đập không rơ ở
người béo quá, trong bệnh viêm màng ngoài tim có tràn
dịch hoặc dày dính màng tim.
- Mỏm tim đập mạnh trong
trường hợp tim trái to, trong bệnh hở van
động mạch chủ hoặc trường hợp
cảm động.
c. Sờ
các tiếng rung miu: trong các bệnh tim, có thể gặp các
trường hợp ḍng máu phải xoáy mạnh qua
một chỗ hẹp (ví dụ hẹp van động
mạch chủ, hẹp van hai lá…) do tốc độ
máu đi nhanh, xoáy qua chỗ hẹp làm rung các tổ
chức van, thành tim, thành mạch lớn cho nên khi
đặt tay vào thành ngực ở gần chỗ
luồng máu qua chỗ hẹp ta sẽ thấy một
cảm giác rung rung giống như khi đặt tay lên
lưng mèo lúc nó rên. Cảm giác đó gọi là rung miu, tuỳ
theo rung miu, ở th́ tim bóp hay tim giăn mà ta gọi là rung
miu tâm thu hoặc rung miu tâm trương (trong phần
nghe tim sẽ giới thiệu thêm các tiếng này). C- PHƯƠNG PHÁP GƠ TIM
Mục đích
để xác định ví trí, kích thước tim và
động mạch chủ, có trường hợp gơ
đóng vai tṛ rất quan trọng trong chẩn đoán
bệnh, ví dụ trong tràn dịch màng ngoài tim, ta gần gơ
xem điện tim to ra đến đâu. Diện
đục của tim b́nh thường chiếu lên thành
ngực là một h́nh bốn cạnh gần giống h́nh
thang.
TIẾN HÀNH GƠ TIM
1. T́m
mỏm tim:
Dùng
phương pháp nh́n và sờ đă tŕnh bày trên để t́m
mỏm tim, nếu trường hợp nh́n và sờ vẫn
chưa xác định được th́ gơ chéo từ
dưới lên trên, từ trái sang phải đến
chỗ bắt đầu đục, đó là vị trí
mỏm tim.
2. T́m
bờ trên gan:
Đặt
ngón tay giữa dọc theo kẽ liên sườn bắt
đầu từ dưới xương đ̣n, gơ từ
trên xuống dưới cho đến lúc vừa tới
vùng đục của gan, đó là bờ trên gan, b́nh
thường giới hạn đục của bờ trên
gan ở mức liên sườn 5.
3. T́m
bờ phải tim:
Tay trái
đặt ngón giữa song song với xương ức,
đầu ngón để trong rănh liên sườn, dùng tay
phải gơ vào ngón giữa trái, gơ từ đường nách
trước trở vào theo khoảng liên sườn cho
đến khi thất vùng đục của bờ phải
tim, cứ như thế gơ từ trên xuống ghi lấy
điểm gặ nhau của bờ phải tim và bờ
trên gan. B́nh thường vùng đục của bờ
phải tim không vượt quá bờ phải xương
ức, trừ chỗ sát bờ trên gan th́ đục ra bên
phải xương ức từ 1cm đến 1,5cm.
Bờ
phải tim ứng với tâm nhĩ nhĩ phải,
chiều cao của bờ này thường không quá 9cm.
4. T́m
bờ dưới tim:
Nối
mỏm tim vào giao điểm của bờ phải tim và
bờ trên gan, ta được bờ dứới tim,
bờ này ứng với tâm thất phải, thông
thường bờ này không dài quá 12cm.
5. T́m
bờ trái tim:
Ta gơ chếch
từ hơm dưới nách trái về phía mũi ức, gơ
từ ngoài vào trong, từ trên xuống dưới, song song
theo hướng thông thường của bờ trái tim cho
đến khi được một đường
giới hạn điện đục của bờ trái
tim. B́nh thường giới hạn này đi từ sát
bờ trái xương ức chỗ xương
sườn 2 đi xuống cắt ngang đường
cạnh ức rồi ph́nh ra thành một đừờng
cong cho đến liên sườn 4-5 ở phía trong
đường giữa xương đ̣n từ 1cm
đến 2cm, bờ trái chủ yếu ứng với tâm
thất trái.
6. T́m
bờ trên tim:
Gơ từ trên
xuống sát hai bên cạnh ức để xác định
bờ trên tim, thường bờ trên này ít có giá trị
chẩn đoán trong thực tế, giới hạn
đục của bờ trên thường từ
xương sườn 2.
Các
giới hạn nói trên là giới hạn vùng đục
tương đối của tim, tức là khoảng
chiếu của tim lên lồng ngực ở nơi có
phổi xen giữa tim và thành ngực (H́nh 1).

C̣n
một vùng đục tương đối của tim
nhỏ hơn vùng đục tương đối, vùng
đục tuyệt đối là giới hạn
đục của điện tim trực tiếp tiếp
xúc với thành ngực. Giới hạn b́nh thường
của vùng đục tuyệt đối như sau:
Bên
phải đi từ sụn sườn thứ tư
chỗ bờ trái xương ức tạo thành một
đường hơi cong sang phải và đi xuống
tới đường giới hạn bờ trên gan.
Giới hạn trái cũng xuất phát từ sụn
sườn thứ 4 đi xuống dưới và ra ngoài
theo một đường cong tới liên sườn
thứ 4-5 gần đường cạnh ức hoặc
giữa đường này với đường
giữa xương đ̣n, giới hạn dưới
được xác định bởi hai điểm nối
đầu phải và đầu trái của hai giới
hạn kể trên.
Các
vùng đục tương đối và tuyệt
đối sẽ thay đổi trong các trường
hợp tim thay đổi vị trí và tim to ra.
D- NGHE TIM
Trong các phương
pháp khám vùng trước tim, nghe tim là phương pháp quan
trọng nhất sẽ giúp người thầy thuốc trong
chẩn đoán.
A' NHẮC LẠI SINH LƯ
Chu chuyển tim
trong 1 phút tim co bóp khoảng 70 đến 80 lần. Trong thời kỳ tiền tâm thu,hai
tâm nhĩ co lại, tống nốt máu vào tâm thất. Khi hai tâm nhĩ vừa co bóp xong
th́ hai tâm thất co bóp tiếp ngay và tạo nên thời kỳ tâm thu của tâm thất. Trong
thời kỳ này van nhĩ đóng lại, những van tổ chim (sigma) mở ra, máu tống vào độn
gmạch chủ và động mạch phổi.
Đến
thời kỳ tâm trương, tâm thất giăn rơ, van tổ
chim đóng lại, van nhĩ thất mở ra, máu từ
tâm nhĩ dồn vào tâm thất do trọng lượng máu
và sức hít của tâm thất.
Tiếng tim:
tiếng thứ nhất chủ yếu do tâm thất co
bóp kết hợp với tiếng đóng của van nhĩ thất.Tiếng thứ hai chủ yếu do tiếng
đóng của van sigma của động mạch chủ và động mạch phổi.
B' PHƯƠNG PHÁP NGHE TIM
Có
hai phương pháp nghe:
- Nghe trực tiếp.
- Nghe bằng ống nghe.
1. Nghe trực tiếp:
Nghe bằng tai phải, áp tai vào một khản mỏng trải trên ngực người bệnh.
Hiện nay không dùng phương pháp này nữa v́ bất tiện khi nghe vùng nách, nhất là
đối với người bệnh nữ.
2. Nghe gián tiếp:
Bằng ống nghe đeo vào hai lỗ tai, phương pháp này dùng phổ biến.
Cách
nghe:
a. Nên nghe ở tư thế: nằm ngủa, nằm nghiêng sang trái,
ngồi.
b. Nghe ở năm ổ van tim:
+ Ổ van hai lá: ở
mỏm tim vào khoảng liên sườn 3 hoặc
xương sườn 5 trên đường vú trái. Khi
bị bệnh mỏm tim có thể sa xuống thấp
hooặc sang trái th́ phải nghe ở vị trí mới có
mỏm tim.
+ Van ba lá: ở trên sụn sườn 6 bên phải.
+ Ổ van động mạch chủ: một ổ ở
khoảng liên sườn 2 bờ bên phải xương
ức và một ổ nửa ở liên sườn 3 sát
bờ bên trái ức gọi là Eck-Botkin.
+ Ổ van động mạch phổi: ở khoảng liên
sườn 2 bên trái sát xương ức
Đôi khi muốn nghe để xác
định rơ hơn những tiếng không b́nh
thường của tim th́ bảo người bệnh làm
vài động tác rồi nghe, hoặc hít vào mạnh,
rồi nín thở (làm như vậy phế nang ph́nh ra
lấp kín các xoang tim phổi, tiếng thổi ngoài tim
sẽ mất đi hoặc giảm cường độ
xuống, c̣n tiếng thổi thực thể trong tim th́
không đổi.
C' NGHE TIM
TIẾNG TIM B̀NH THƯỜNG
Trong mỗi chu chuyển timta nghe
được hai tiếng:
- Tiếng thứ nhất nghe trầm dài.
- Tiếng thứ hai nghe thanh và gọn
hơn.
Tiếng thứ nhất cách tiếng
thứ hai bởimột khoảng nghỉ ngắn,
tiếng thứ hai cách tiếng thứ nhất của chu
chuyển sau bằng một khoảng nghỉ dài. Tiếng
thứ nhất xem như đồng thời với
tiếng mạch đập, tức là mở đầu
th́ tâm thu. Tiếng thứ hai tương ứng với lúc
mạch ch́m, mở đầu th́ tâm trương.
Tiếng thứ nhất nghe rơ ở
mỏm tim, tiếng thứ hai nghe rơ hơn ở đáy tim.
Ở một số trẻ em và thanh niên, có khi ta nghe
được một tiếng thứ ba theo sau tiếng
thứ hai. Tiến thứ ba này chỉ là tiếng tim sinh
lư do máu dồn mạnh từ nhĩ xuống thất
ở thời kỳ đầu tâm trương. Nếu ta
bảo người bệnh thở vào sâu rồi nín
thở th́ ta không nghe thấy tiếng thư ba nữa.
Tiếng thứ ba khi nghe được th́ thấy sau lúc
tận cùng của tiếng thứ hai từ 0,05
đến 0,1 giây.
Người ta c̣n nói tiếng tim
thứ tư b́nh thường nhưng rất hiếm
gặp, tiếng tim này c̣n gọi là tiếng tâm nhĩ. Trong
trường hợp phân ly nhĩ thất hoàn, ta có thể
ghi được tiếng này trên tâm thanh đồ.
Người ta cho rằng tiếng này phát sinh v́ khi nhĩ
bóp đẩy máu qua van nhĩ thất xuống làm giăn tâm
thất nhanh do luồng máu xuống mạnh hơn ở
cuối tâm trương.
SỰ THAY ĐỔI TIẾNG TIM
1. Thay đổi cường
độ.
a. Thay đổi cường độ cả hai
tiếng tim phụ thuộc vào các yêu tố sau:
+ Thành ngực.
+ Môi trường giữa tim và
ngực.
+ Máu.
+ Cơ tim và van tim.
a) Cường độ tăng: Hai tiêng tim đều mạnh hơn khi
bị kích thích như khi bị cảm động, sau khi
tập thể thao, lao động nặng, khi sốt, trong
bệnh cường tuyến giáp.
Ở người gầy, do thành
ngực mỏng, tiêng tim nghe rơ hơn nhưng không phải
bệnh lư.
b) Cường độ giảm: cơ tim yếu nên van tim cũng
đập yếu, mặt khác van được bao phủ
bởi lớp màng. B́nh thường màng trong tim nhẵn
nhụi, khi bị viêm, bị phù van đập không
mạnh nữa.
B́nh thường lá thành và lá tạng
của màng ngoài tim trượt sát vào nhau, khi có nườc
giữa hai lá đó th́ tiếng tim truyền ra lồng
ngực bị cản lại nên nghe tiếng tim không rơ
nữa, do đó ta gặp hai tiếng tim nghe nhỏ trong:
+ Tràn dịch màng ngoài tim.
+ Viêm cơ tim, nhồi máu cơ tim.
+ Viêm màng trong tim cấp.
Cần chú ư. Ở người béo,
ở nữ giới do tuyến vú cản trở, tiếng
tim nghe cũng nhỏ.
b. Thay đổi cường độ
của riêng tiếng thứ nhất ở mỏm tim
a)
Tiếng thứ nhất đanh trong bệnh hẹp van hai lá, lư do v́:
Các van bị dày, cứng do viêm, khi đóng lại các
van đập vào nhau gây ra tiếng đanh. Có tác giả dựa vào kết quả quay phim buồng
tim, cho rằng sự thay đổi này là do van hai lá đóng đột ngột.
+ Điểm nữa, trong bệnh
hẹp van hai lá, máu dồn về thất trái ít nên khi c̣n bù,
sức co bóp của cơ tim c̣n tốt, nó không bị giăn ra
nhiều trong th́ tâm trương nên khi bóp sẽ nhanh, tâm
thu ngắn v́ thế tiếng gọn, đanh.
b) Tiếng thứ nhất mờ: trong các bệnh cơ tim và viêm màng trong
tim v́ cơ tim bị viêm nên bóp yếu, và các van bị viêm
nên phù khép không kín làm cho tiếng tim bị mờ.
c. Thay đổi cường độ
tiếng thứ hai:
a) Ở ổ động mạch
chủ:
+ Giảm: Cùng với tiếng thứ nhất, trong viêm màng trong
tim cấp, lư do cũng như trường hợp trên.
+ Tăng:
Trong bệnh tăng huết áp v́ trong trường hợp
huyết áp cao, máu dồn về thành van mạch làm van
đóng mạnh trong đầu th́ tâm trương.
b) Ổ ở động mạch
phổi:
+ B́nh thường tiếng thứ
hai ở ổ động mạch phổi vẫn mạnh
hơn tiếng thứ hai ở ổ động mạch
chủ v́ động mạch chủ ở sát thành ngực
hơn.
+ Trường hợp bệnh lư, tiếng
thư hai đanh trong bệnh hẹp van hai lá, v́ trong
bệnh này máu ứ lại ở nhĩ trái rồi ứ
lại ở tiểu tuần hoàn nên máu ở động
mạch phổi dồn mạnh về thành van khi đóng
gây ra tiếng đanh.
2. Thay đổi về nhịp.
B́nh thường nhịp tim rất
đều do hệ thống thần kinh tự động
chi phối. Khi hệ thống này bị tổn
thương, nhịp tim sẽ nhanh, chậm hoặc
loạn nhịp. (xem chương “ rối loạn nhịp”
ở phần sau).
3. Thay đổi về số lượng tim: nhịp 3 tiếng.
Khi nghe kỹ tim một số người bệnh có khi
chúng ta thấy ở tiếng thứ nhất hoặc ở tiếng thứ hai có hai tiếng chồng
nhau. Trong những trường hợp này, ta thấy tim đập theo một nhịp ba tiếng. Nếu cả
hai tiếng tim đều phân đôi, ta sẽ nghe được nhịp 4 tiếng.
a. Tiếng thứ hai phân đôi sinh lư. Nghe rơ ở khoảng liên sườn hai
hoặc ba bên trái vào cuối th́ thở vào, không nghe thấy
thường xuyên (chỉ có chu kỳ). Những tính
chất đó giúp ta phân biệt với tiếng thứ hai
phân đôi bệnh lư thường có liên tục trong
bệnh hẹp van hai lá. Tuy vậy cũng có trường
hợp ở một người b́nh thường vẫn
luôn luôn có tiếng thứ hai phân đôi. V́ vậy chỉ
đơn thuần có một triệu chứng này th́ chưa dám
chắc chắn tính chất của bệnh lư.
Cần phân biệt tiếng thứ hai
phân đôi với tiếng thứ ba của tim, cả hai
đều b́nh thường nhưng phân biệt nhau v́ ta
nghe chúng ở những địa điểm khác nhau,
thời gian khác nhau tiếng thứ hai phân đôi nghe
rất gần nhau trong đó tiếng thứ ba của tim
bao giờ cũng nghe sau tiếng thứ hai một thời
gian dài và vị trí nghe tiếng thứ ba lại ở
mỏm tim.
Trong tâm thanh đồ, tiếng thứ
hai phân đôi sinh lư cách nhau một khoảng yên lặng
từ 3% đến 7% giây, trái lại tiếng thứ ba
cách tiếng thứ hai một khoảng yên lặng là 10%
đến 16% giây.
b. Tiếng thứ nhất phân đôi. Gồm hai tiếng rất sát nhau, nghe
rơ ở vùng mỏm tim hoặc phía trong đương
giữa xương đ̣n trên lêin sườn 5 bên trái.
Thường nghe được khi
người bệnh đứng, c̣n khi nằm tiếng
đó nhỏ đi hoặc không nghe thấy. Tiếng
thứ nhất phân đôi sinh ra do các van nhĩ thất
đóng không đều, có thể gặp ở người
khoẻ mạnh cũng như trong một người tim
hay kích động, một số người mắc các
bệnh ảnh hưởng tới cơ tim. Đừng
nhầm tiếng này với tiếng ngựa phi.
c. Tiếng clắc mở van hai lá. Là một tiếng thêm vào tiếng
thứ hai, nghe giống tiếng clắc, âm sắc khô, nghe
rơ ở khoảng liên sườn 4, 5 trái ở vùng trong
mỏm tim, đôi khi nghe được ở đáy tim.
Tiếng này có giá trị trong bệnh hẹp van hai lá, nó phát
sinh do van hai lá xơ cứng, các nhánh van khi mở ra tách
khỏi nhau nghe thành tiếng clắc. Trên thanh tâm
đồ, nó đi sau tiếng thứ hai từ 7%
đến 11% giây.
d. Tiếng ngựa phi: nhịp ba tiếng này do một
tiếng nhỏ thêm vào ở thời kỳ tâm
trương. Tiếng này sinh ra trong trường hợp tâm
thất bị suy nhiều, dễ giăn ra khi máu từ
nhĩ dồn xuống tâm thất và đẩy mỏm tim
chạm vào thành ngực làm ta nghe được theo
một tiếng trong th́ tâm trương.
Tiếng ngựa phi nghe rơ nhất ở
vùng trong mỏm tim, hoặc ở mỏm tim, khi
người bệnh nằm nghiêng về bên trái sẽ nghe
rơ hơn, tiếng này thường khu trú ở một
nơi nhất định không lan xa. Ta thường
gặp tiếng thêm vào này ở th́ tiền tâm thu (gọi là ngựa phi tiền âtm thu). Ngựa phi tiền tâm thu
sinh ra do nhĩ bóp đẩy máu xuống làm giăn thành tâm
thất. C̣n loại ngựa phi đầu tâm
trương sinh ra do tâm thất đă nhẽo quá nên ngay
khi các van nhĩ thất mở, luồng máu từ tâm nhĩ
xuống dội vào thành tâm thất đă làm giăn thành tâm
thất ngay.
Người ta gọi là tiếng
ngựa phi phải hay trái tuỳ theo tâm thất phải hay
tâm thất trái bị suy.
Ngựa phi phải nghe rơ ở cạnh
mỏm ức, ngựa phi trái nghe rơ ở mỏm tim.
Loại ngựa phi trái thường gặp hơn. Muốn
phân biệt phải dựa vào triệu chứng lâm sàng
của suy tâm thất nào.
Tiếng ngựa phi thường kèm theo
nhịp tim nhanh, nếu có loạn nhịp hoàn toàn, ngựa
phi sẽ mất.
Chú ư:
1. Cần phân biệt tiếng ngựa phi
tiền tâm thu với tiếng thứ nhất phân đôi.
Hai tiếng phân đôi nghe rất gần nhau c̣n tiếng
ngựa phi có một khoảng yên lặng giữa tiếng
ngựa phi tiền tâm thu và tiếng thứ nhất;
điểm nữa, tiếng ngựa phi có âm sắc
trầm hơn và nhịp tim nhanh hơn.
Sự phân biệt này quan trọng v́
tiếng thứ nhất phân đôi chỉ chứng tỏ
tim dễ bị kích thích c̣n tiếng ngựa phi lại là
triệu chứng của suy tim.
Ta có thể h́nh dung vị trí các
tiếng trong sơ đồ bên (H́nh 2)

2. Cũng phân biệt tiếng ngựa phi
đầu tâm trương với tiếng thứ ba,
tiếng thứ ba không có thường xuyên, hay thấy
ở trẻ em và người trẻ, khoẻ mạnh
chỉ hít vào sâu là không nghe thấy tiếng thứ ba
nữa.
Giá trị: Tiếng ngựa phi là dấu hiệu của suy tâm
thất, tiên lượng nói chung xấu, nhất là
đối với tâm thất trái, tuy vậy điều
trị có thể mất tiếng ngựa phi.
Một số bệnh dẫn tới suy
tâm thất trái như:
- Tăng huyết áp.
- Hở lỗ động mạch
chủ.
- Viêm thận cấp và mạn tính.
- Viêm và phồng động mạch
chủ do giang mai.
- Hẹp lỗ động mạch
chủ.
- Thấp tim.
D' - CÁC TIẾNG THỔI
ĐẠI
CƯƠNG
Trong một số
trường hợp khám tim, ngoài các tiếng tim b́nh
thường chúng ta c̣n nghe được các tiếng
tương tự tiếng không khí thổi qua một miệng
ống, ta gọi là các tiếng thổi.
Cơ chế sinh ra
tiếng thổi. Một
ḍng mau khi chảy xoáy mạnh, sẽ gây ra tiếng
thổi. Các nguyên nhân của t́nh trạng gây ra ḍng chảy
xoáy có nhiều. Theo Reynolds nếu P là tỉ trọng máu,và N
là số Reynolds, tỉ lệ với độ xoáy của
máu, th́ các yếu tố trên liên hệ với nhau theo công
thức:
Như vậy ta
thấy khi tăng tốc độ ḍng máu, khi ḍng máu
chảy từ chỗ rộng sang chỗ hẹp hoặc
từ chỗ hẹp sang chỗ rộng, hoặc có khi
thông hai mạch máu hay thông hai buồng tim, hoặc hki
độ nhớt của máu giảm, th́ làm tăng
độ xoáy của máu và gây ra tiếng thổi.
Trên lâm sàng,
người ta có thể nghe được:
- Tiếng thổ tâm thu.
- Tiếng thổi tâm trương
- Tiếng thổi liên tục.
Tiếng thổi tâm thu
là tiến gthổi nghe thấy đồng thời với
thời gian mạch nảy, tiếng thổi tâm
trương với thời gian mạch ch́m, do đó khi nghe
tim, ta cần phối hợp với bắt mạch,
tiến ghtổi liên tục nghe được ở
cả hai th́ nhưng mạch dần ở cuối tâm thu và
đầu tâm trương.
Người ta c̣n
dựa vào điện tâm đồ, tâm thanh đồ,
mạch đồ, ghi đồng thời để xác
định các tiếng thổi trên đây.
Thường th́ nghe
tiếng thổi tâm thu xuất hiện ngay sau tiếng
thứ nhất của tim nhưng v́ tai chỉ phân biệt
được những thời khoảng không quá ngắn,
cho nên khi nghe tim thấy tiếng thổi tâm thu chiếm
hết cả th́ tâm thu, che lấp cả tiếng thứ
nhất.
Tiếng thổi tâm
trương thường chỉ chiếm một phần
th́ tâm trương và nghe sát liền tiếng thứ hai
của tim.
Trong tiếng thổi
liên tục, không có khoảng nghỉ ở cuối tâm thu
sang đầu tâm trương.
PHÂN LOẠI CÁC
TIẾNG THỔI
Người ta
thường phân biệt hai loại tiếng thổi:
TIẾNG THỔI TRONG BỆNH TIM
Gồm có:
- Tiếng thổi thực thể.
- Tiếng thổi chức năng.
Tiếng thổi
thực thể là do có tổn thương thực sự
ở các van tim gây nên, ví dụ viêm gan hai lá, viêm van
động mạch chủ. Nếu không có tổn
thương ở van tim nhưng v́ buồng tim bị giăn
to v́ một lư do nào đó mà các van tim không đóng
được kín mỗi khi co bóp, sẽ gây nên tiếng
thổi chức năng.
1. Tiếng thổi thực thể.
a. Tính chất lâm sàng của tiếng
thổi thực thể. a) Vị
trí: tuỳ
theo tổn thương ở van nào, tiếng thổi
sẽ nghe rơ ở ổ nghe của lỗ van đó (van
hai lá, van ba lá, van động mạch chủ, van
động mạch phổi). Ví dụ: tiếng
thổi tâmthu ở mỏm tim trong bệnh hở van hai
lá, tiếng thổi tâm trương ở liên
sườn hai bên phải và liên sườn 3 trái
xương ưc trong bệnh hở van động
mạch chủ.b) Thời
gian: tiếng
thổi có thể chiếm cả hoặc chiếm
một phần th́ tâm thu hoặc tâm trương.
Nếu tiếng thổi có liên tiếp cả hai th́ tâm
thu và tâm trương th́ gọi là tiếng thổi liên
tục, tiếng thổi này nghe ù ù như tiếng xay
lúa nhưng thường mạnh hơn trong th́ tâm thu. g) Lan
truyền: trong
đa số các trường hợp tiếng thổi
thường lan truyền theo hướng đi của
ḍng máu. Sau khi định rơ nơi tiếng thổi nghe
rơ nhất, ta thay đổi dần vị trí nghe ta
sẽ thấy cường độ tiếng thổi
giảm dần đến một lúc không nghe rơ nữa.
Nơi tiếng thổi nghe rơ nhất là vị trí
tổn thương, các nơi khác nghe ít rơ hơn là
nơi tiếng thổi lan đến.Ví
dụ: tiếng thổi tâm thu ở mỏm lan ra nách
gặp trong bệnh hở van hai lá. d) Thường
xuyên: tiếng
thổi nghe thấy thường xuyên ở một th́
nào đó của chu chuyển tim. Nó không thay đổi
nếu người bệnh thay đổi tư
thế. V́ vậy bao giờ ta cũng phải nghe tim
người bệnh ở nhiều tư thế khác
nhau: nằm ngửa, nằm nghiêng, ngồi… e) Cường
độ, âm thanh, âm sắc: tiếng thồi nghe trầm
trầm nếu ḍng máu qua một lỗ tương
đối to, âm thanh nghe cao nếu lỗ nhỏ
hơn. Aâm sắc cao, thô ráp khi các thành của van tim
đă chai cứng. Tiếng thổi mờ, không rơ khi
các thành này c̣n mềm hoặc ưng phù có thịt sùi,
tổn thương c̣n mới hay đang tiến
triển.
Tiếng
thổi thực thể gồm ba loại sau:
- Tiếng thổi tâm thu.
- Tiếng thổi tâm trương (riêng
tiếng thổi tâm trương ở mỏm tim có âm
sắc như tiếng rung dùi trống trên mặt trống
nên gọi là tiếng rung tâm trương).
- Tiếng thổi liên tục.
Sau đây là bảng sắp xếp các
tiếng thổi thực thể
|
Tiếng thổi
|
Địa điểm
|
Tính chất
|
Hướng lan
|
Tên bệnh
|
|
Tiếng thổi tâm thu
|
Mỏm tim
|
Chiếm hết th́ tâm thu, như
tiếng phụt hơi nước, có thể có rung miu.
|
Ra nách và sau lưng.
|
Hở van hai lá.
|
|
|
Liên sườn hai phải cạnh
ức
|
Có rung miu chiếm hết th́ tâm thu.
|
Xương đ̣n phải.
|
Hẹp van động mạch chủ.
|
|
Liên sườn hai trái cạnh ức
|
Có rung miu chiếm hết th́ tâm thu
|
Xương đ̣n trái.
|
Hẹp van động mạch phổi.
|
|
Liên sườn 3,4 trái ở vùng
trước tim.
|
Có rung miu chiếm hết th́ tâm thu
|
Lan theo h́nh các nan hoa bánh xe.
|
Thông liên thất.
|
|
Tiếng thổi tâm trương
|
Liên sườn 2 phải hoặc 3 trái
cạnh xương ức
|
Nhẹ, êm như hít vào.
|
Dọc xương ức hoặc
bắt chéo xương mỏm tim.
|
Hở van động mạch chủ.
|
|
Rung tâm trương
|
Mỏm tim
|
Như tiếng vỗ nhẹ dùi trên
mặt trốn, có rung miu tâm trương.
|
Ít lan
|
Hẹp van hai lá.
|
|
Tiếng thổi liên tục.
|
Liên sườn 1,2 trái
|
Mạnh lên ở cuối th́ tâm thu,
đầu tâm trương, có thể có rung miu.
|
Xương đ̣n trái.
|
C̣n ống động mạch.
|
Và sau đây là
bảng ghi đồng thời: tâm đồ, điện
tâm đồ, mạch đồ, tâm thanh đồ (H́nh 3)
b. Cơ chế phát sinh các tiếng
thổi. (xem thêm từng
tiếng thổi trong phần hội chứng van tim).
Các
tiếng thổi ở tim đều phát sinh bởi một
nguyên do là ḍng máu đi từ chỗ rộng vào chỗ
hẹp rồi lại qua chỗ rộng.
+ Trong
trường hợp hở van hai lá, tiếng thổi
tâm thu phát sinh ra do ḍng máu phụt từ thất trái lên
nhĩ trái qua lỗ van hai lá không đóng kín.+ Trong
bệnh hẹp van động mạch chủ và hẹp
van động mạch phổi, tiếng thổi sinh ra
do ḍng máu từ thất trái và thất phải đi qua
lỗ hẹp của các van tổ chim trong th́ tâm thu.
+ Trong
bệnh hở van độn gmạch chủ có
tiếng thổi tâm trương v́ có một luồng
máu từ động mạch chủ chạy về
thất trái trong th́ tâm trương do van động
mạch chủ đóng không kín.+ Trong
bệnh hở van động mạch phổi có
tiếng thổi tâm trương v́ có ḍng máu
động mạch phổi chạy lại thất
phải trong th́ tâm trương do van động
mạch phổi hở.
+ Trong
bệnh thông liên thất, ḍng máu đi từ thất trái
sang thất phải qua lỗ thông gây ra tiếng
thổi.+ Trong
bệnh hẹp van hai lá, tiếng rung tâm trương
phát sinh do ḍng máu từ nhĩ trái dồn qua chỗ
hẹp của van và va vào hệ thống dây chằng
cột cơ.
+ Trong
bệnh c̣n ống động mạch, có tiếng
thổi liên tục v́ có ḍng máu xoáy qua ống,
đồng thời v́ có sự thay đổi áp lực
máu từ động mạch chủ tối
động mạch phổi mà gây ra tiếng thổi
liên tục.2. Tiếng thổi chức
năng.
Có
khi van tim không bị tổn thương nhưng v́ một
lư do nào đó làm buồng tim giăn to, các van không đóng kín
được nữa, v́ thế phát sinh tiếng thổi
ki tim co bóp. Như vậy tiếng thổi chức năng
là do một sự hư hại ở cơ tim (tim giăn to)
chứ không phải do một tổn thương của
màng trong tim (viêm nhiễm). Loại tiếng thổi này
thương êm nhẹ, ít khi lan vàhay thay đổi.
Đặc điểm chủ yếu để phân
biệt tiếng thổi chức năng và tiếng
thổi thực thể là tiếng thổi chức năng
không bao giờ có rung miu cả.
Tiếng
thổi chức năng có trong trường hợp suy
timtrái, trong đó buồng tim bị giăn to khiến các van
không đóng kín được nữa gây ra hở chức
năng của van hai lá và phát sinh ra tiếng thổi.
Tiếng thổi chức năng sẽ mất đi khi ta
điều trị suy tim làm cho buồng tim nhỏ lại,
trái lại nếu là tiếng thổi thực thể, nó
sẽ mạnh lên khi timbớt suy v́ tim có thể bóp mạnh
hơn. Đó cũng là một cách phân biệt với
tiếng thổi thực thể.
Phân biệt tiếng thổi thực
thể và tiếng thổi chức năng.
|
|
Tiếng thổi thục thể
|
Tiếng thổi chức năng
|
|
Vị trí
|
Co û ở cả 5 ổ van tim.
|
Hay có ở động mạch
phổi sau đó đến ở van hai lá.
|
|
Thời gian
|
Tâm thu, tâm trương, liên tục.
|
Chủ yếu là tiếng thổi tâm
thu mà cũng ít khi chiếm hết th́ tâm thu, rất ít khi
gặp tiếng thổi tâm trương chức năng.
|
|
Cường độ âm sắc
|
Thường mạch rơ, trừ
tiếng thổi tâm trương không mạnh bằng).
|
Thường nhẹ, êm dịu,
rất ít khi mạnh, nếu có mạnh cũng không có rung
miu.
|
|
Lan truyền
|
Lan xa theo ḍng máu.
|
Ít lan
|
|
Rung miu
|
Thường có, nhất là trong các
trường hợp hẹp van.
|
Không
|
|
Tính chất thường xuyên
|
Có thường xuyên, không thay
đổi khi thay đổi tư thế người
bệnh.
|
Có thể thay đổi, thậm chí
mất hẳn khi người bệnh hít vào sâu,
đổi tư thế hoặc sau kết quả
điều trị
|
3. Tiếng thổi ngoài tim.
Đó
là tiếng thổi nghe thấy ở những người
hoàn toàn không có một tổn thương nào ở tim
cả, v́ vậy loại tiếng thổi nàu cũng không
có một giá trị bệnh lư ǵ.
Tiếng
thổi ngoài tim có thể gặp ở tất cả
mọi lứa tuổi nhưng hay thấy hơn ở
những người trẻ có quả tim dễ bị kích
thích. Tiếng thổi đó nghe ở ngoài vị trí
của các ổ tim, ở th́ tâm thu, không lan truyền,
mất đi khi đổi tư thế hay khi hít vào sâu.
Người
ta cho rằng sở dĩ có tiếng thổi này là do tim
bị che lấp ở phía trước và hai bên bởi các
phân thuỳ phổi lân cận. Khi tim co lại (tâm thu)
hoặc giăn ra (tâm trương), nó sẽ làm cho phổi
cũng giăn ra hoặc bóp lại theo, không khí bị hít theo
vào hoặc bị đẩy ra bởi các phân thuỳ
phổi đó sẽ phát sinh ra các tiếng thổi.
Trong
bệnh thiếu máu, do quá loăng máu nên khi tâm thu ḍng máu đi
nhanh cũng có thể làm rung thành tâm thất va van tim gây ra
tiếng thổi, vẫn thường gọi là tiếng
thổi thiếu máu.
E- TIẾNG CỌ MÀNG NGOÀI TIM
Cơ chế.
Trong
trường hợp bệnh lư, hai lá của màng ngoài tim
bị viêm nhiễm sẽ mất tính chất nhẵn bóng
thường có, và trở nên ráp v́ giữa hai đám h́nh
thành những đám giả mạc, cho nên khi tim co bóp, các là
của màng ngoài tim không thể trượt trên nhau im
lặng như b́nh thừờng mà phát sinh ra tiếng
cọ.
Tính chất lâm sàng.
Đó
là các tiếng cộng thêm vào các tiếng tim b́nh
thường, nghe rất gần bên tai. Có thể có một
hay hai tiếng.
Vị
trí: nghe rơ ở vùng trước tim, ở sát xương ức
trái gần mũi kiếm, nó không lan, nghe thấy hai
tiếng đi với hai th́ của tim, tiếng cọ sinh
ra và mất đi ở cùng một chỗ.
Thời
gian: ở vào sau hai tiếng tim, nhưng thường
nếu nghe thấy hai tiếng cọ th́ tiếng tim ở
chỗ đó nghe không rơ nữa.
Cường
độ, âm sắc: tiếng nghe ráp như hai tiếng
lụa mới cọ vào nhau.
Chẩn đoán phân biệt.
Ta
cần phân biệt tiếng cọ màng ngoài tim và tiếng
cọ màng phổi; tiếng này mất đi khi
người bệnh nín thở. Chỉ riêng trường
hợp nếu cọ màng phổi ở vùng gần tim,
ăn nhịp với tiếng tim khó phân biệt.
Giá trị lâm sàng của tiếng cọ
màng ngoài tim.
Khi
có tiếng cọ chứng tỏ màng ngoài tim đă bị
viêm. Đó là dấu hiệu đặc hiệu và duy
nhất của bệnh viêm màng ngoài tim khô.
Trong
trường hợp viêm màng ngoài tim có tràn dịch, ta
cũng có thể nghe thấy tiếng cọ nhưng
chỉ ở giai đoạn đầu lúc nước c̣n
ít, hoặc giai đoạn sau, lúc nước đă rút
đi.
|