CÁCH KHÁM MỘT NGƯỜI BỆNH NỘI
TIẾT.
I. ĐẠI CƯƠNG.
Trong những năm gần đây,
sự hiểu biết về các bệnh nội tiết ngày một sâu rộng hơn nhờ việc thăm khám
lâm sàng tỷ mỉ kỹ càng, nhưng nhất là nhờ vào phương pháp thăm ḍ hiện đại về
Xquang, phóng xạ, sinh hoá và miễn dịch.
Tuyến nội tiết là những
tuyến tiết ra Hocmon, các chất này đổ vào các mạch máu đi của tuyến. Chính
ngay cả ở tế bào của tuyến, các tĩnh mạch nằm trong tuyến, ở các tân mạch từ
tuyến đi ra, người ta cũng thấy có những chất mang tính chất hoá học của một
chất nội tiết đặc hiệu tiết ra từ các tuyến nội tiết.
Mỗi tuyến nội tiết ra
một số hocmon đặc hiệu mang tính chất hoá học và có một chức năng đặc hiệu
riêng cho tuyến đó.
Bệnh nội tiết có thể do
rối loạn của một hay nhiều tuyến. Về lâm sàng ngoài sự thay đổi ngay ở trên
tuyến (thay đổi về h́nh thể, kích thước, mật độ…), bao giờ hocmon cũng có ảnh
hừởng đến toàn thể trạng người bệnh.
Bệnh nội tiết là bệnh
toàn thân.
Các tuyến nội tiết hầu
hết rất nhỏ, nằm sâu trong cơ thể ( trừ tuyến sinh dục và giáp trạng) do đó
rất khó khám trực tiếp. Vả lại các biến đổi ban đầu của các tuyến nội tiết
phần lớn lại từ biến đổi về thể dịch và sinh hoá.
Có thể nói,bệnh nội tiết
là một bệnh về sinh hoá.
Do đó thăm khám tuyến “
nội tiết” đ̣i hỏi phải tỷ mỉ, toàn diện, kết hợp lâm sàng và các phương pháp
thăm ḍ tuyến. Sau đó phải tổng hợp để xem các rối loạn ấy thuộc hội chứng
suy hay cường của tuyến nào?
I. KHÁM LÂM SÀNG.
1. Quan sát h́nh dạng người bệnh.
Hầu hết các bệnh nội tiết đều có ảnh hưởng
đến h́nh dáng chung của người bệnh. Cần chú ư những điểm sau:
1.1. Nh́n chung để biết.
- Tư
thế lúc nghỉ ngơi, lúc đi lại.
- H́nh dạng mặt, thân, các chi.
- Màu sắc, tính chất của da.
Nhiều khi nh́n đă giúp ta nghĩ tới bệnh nào
đó của tuyến nội tiết, như: thay đổi mặt, các đầu chi trong bệnh to đầu chi;
bướu giáp trạng có lồi mắt trong bệnh Basedow….
1.2. Chiều cao. Dùng thước đo chiều cao của người bệnh, đánh
giá chiều cao so với tuổi tương ứng để biết cao quá hay lùn quá so với b́nh
thường, nhất là đối với trẻ em và những người trẻ tuổi.
Đồng thời phải đo các xương dài (cẳng tay,
cánh tay, cẳng chân, đùi), đo ṿng đầu xem có hiện tượng ứ nước năo hay đầu
quá nhỏ, đo ṿng ngực… để đánh giá sự cân đối giữa các bộ phận.
Việc cân đo này rất cần thiết, nhất là đối
với những người bệnh chưa đến tuổi trưởng thành.
1.3. Cân nặng. Theo dơi cân nặng người bệnh, hỏi kỹ xem sự
thay đổi cân nặng qua các giai đoạn của bệnh, thời gian xuất hiện và các điều
kiện xuất hiện của gầy hoặc béo.
1.3.1. Gày: có thể gầy tự nhiên, ở đây lớp cơ phát triển
cân đối, nhưng lớp mỡ dưới da th́ không có. Trái với gầy bệnh lư, lớp cơ và
mỡ đều rất kém phát triển. Trong bệnh Simmonds, người bệnh gầy hoàn toàn.
1.3.2. Béo:
có thể béo toàn thân hay khu trú một số bộ phận mà đặc biệt là mông, đùi,
mặt, bụng và ngực. Như béo mặt, thân trong bệnh ph́ sinh dục.
1.4. Da, lông, tóc, móng.
1.4.1. Da:
- Xem
thay đổi về màu sắc, sự xuất hiện các mảng sắc tố… chú ư khám những chổ da đặc
biệt như cùi tay, các nếp cổ, bàn tay, bẹn.
-
Nhiệt độ của da như
lạnh, ra mồ hôi nhiều, trong bệnh bệnh suy giáp trạng và ngược lại trong
Basedow.
1.4.2. Lông tóc mỏng:
- Tóc, lông mi, lông mày khô và dễ găy trong bệnh phù
niêm (myxoedeme), thưa thớt trong suy sinh dục, rụng trong bệnh Simmonda.
- Râu, mọc râu ở nữ trong bệnh Cushing,
- nam không có râu trong bệnh suy sinh dục.
- Móng dễ găy trong bệnh phù niêm.
- Răng mọc kém, sâu trong suy cân giáp trạng. Dễ găy,
có mủ lợi, dễ rụng trong đái tháo đường. Răng mọc thưa trong bệnh to đầu chi.
Dựa vào h́nh dáng chung, vào h́nh thức tóc
mọc ở vùng gáy và trán ta đánh giá những biểu hiện nam tính và nữ tính.
Việc thăm khám h́nh dáng quan trọng đến nỗi
có tác giả đă cho bệnh nội tiết là bệnh về h́nh dạng. Ngoài thay đổi về
h́nh dạng c̣n có ảnh hưởng đến các bộ phận.
2. Khám các bộ phận.
2.1. Bộ máy sinh dục.
2.1.1. Về chức năng, phải hỏi kỹ về kinh nguyệt.
- Ngày
bắt đầu có kinh.
- Số ngày của ṿng kinh.
- Ngày thất kinh, t́nh trạng kinh ra sao?
Đồng thời phải hỏi kỹ về sinh đẻ, số lần sẩy.
2.1.2. Thăm khám bộ phận sinh dục.
- Ở đàn
bà:
+ Xem kích thước, vị trí của lỗ âm đạo.
+ H́nh dáng của môi to, môi bé, âm vật…
+ T́nh trang, thể tích âm đạo, tử cung, vú…
- Ở đàn ông.
+ Kích thước của dương vật, b́u.
+ Vị trí, độ lớn, cảm giác, số lượng tinh
hoàn.
Hầu hết các bệnh nội tiết đều gây rối loạn
sinh dục.
2.2. Bộ máy tuần hoàn: trong các rối loạn của bộ máy tuần hoàn cần
chú ư:
2.2.1. Huyết áp: xem cao hay thấp.
- Tăng
huyết áp:
(cần loại trừ nguyên nhân gây tăng huyết áp
di truyền, viêm thận mạn hoặc do bệnh van tim). Có thể thấy tăng huyết áp do
cường tuỷ và vỏ thượng thận, bệnh Basedow.
- Hạ huyết
áp:
có thể thấy trong bệnh Addison.
2.2.2. Tim: thường ảnh hưởng tới cơ tim và động mạch
vành.
- Nhịp tim nhanh trong bệnh Basedow.
- Nhịp tim chậm trong suy giáp trạng và suy tuyến yên.
- Có thể thấy rối loạn nhịp tim, suy tim trong bệnh
Basedow.
- Động mạch vành bị viêm, xơ trong bệnh đái tháo
đường.
- Tim to hay tràn dịch màng ngoài
-
Tim trong bệnh phù niêm.
2.3. Bộ máy tiêu hoá.
2.3.1. Khẩu vị: khẩu vị có thể bị giảm sút rơ rệt trong rối
loạn hạ khẩu nảo- yên như: chán ăn trong bệnh Simmonds, ăn uống quá nhiều
trong bệnh đái tháo đường.
2.3.2. Các rối loạn do phản ứng của thần
kinh thực vật dạ dày.
- Tiêu
hoá kém, táo bón trong bệnh phù niêm.
- Ỉa chảy trong bệnh Basedow.
- Đau
bụng, nôn mửa trong hạ canxi máu.
2.4. Bộ phận vận động. Sự phát triển của bộ xương chịu ảnh hưởng
không những của tuyến cận giáp trạng, mà c̣n của cả ơstrogen, và androgen
và coctison. Rỗ xương trong bệnh Crushing; thoái khớp trong đái tháo đường.
2.5. T́nh trạng thể lực, tinh thần:
2.5.1. Thể lực: xem cường độ và chịu đựng của sức:
- Lười
hoạt động và hoạt động chậm chạp trong bệnh phù niêm.
- Cơ
lực lúc đầu khoẻ, nhưng giảm
rất mau trong Addison.
2.5.2. Tinh thần.
- Trí
nhớ, trí thông minh kém
phát triễn trong bệnh phù niêm.
- Dễ xúc động, hay sợ, trong bệnh Basedow.
Với các biểu hiện lâm sàng trên, giúp ta rất
nhiều để hướng tới chẩn đoán. Nhưng muốn chắc chắn, phải tiến
hành các phương pháp thăm ḍ tuyến.
II. CÁC PHƯƠNG PHÁP THĂM D̉ TUYẾN.
1. Thăm ḍ về h́nh thái.
Chủ yếu dựa vào Xquang, chụp phóng xạ. Tuỳ
từng tuyến, có thể áp dụng các phương pháp áp Xquang khác nhau, nhằm t́m và
đánh giá thể tích tuyến mà không đo được khi khám lâm sàng.
- Trong bệnh Addison, chụp thường có thể thấy các nốt
vôi hoá ở tuyến thượng thận.
- Trong bướu ngầm giáp trạng, chụp thường có thể h́nh
tuyến to ra, có khi đè vào khí, thực quản, quan sát rất rơ khi người bệnh
uống Baryt.
- Chụp nghiêng sọ, để biết tuyến yên có rộng ra không,
trong u tuyến yên.
- Chụp bơm hơi sau màng bụng, cắt lớp để phát hiện u
thượng thận.
- Chụp thận qua đường tĩnh mạch (U.I.V) để xem đài,
bể thận bị đi lệch trong u thượng thận.
- Chụp phóng xạ đồ uống I131 để biết h́nh
thái và mật độ thu nạp ion của tuyến giáp trạng.
-
Chụp tử cung sau khi bơm thuốc để
biết h́nh thể tử cung,
- sự thông của
ṿi trứng.
- Chụp các ṿi xương để xem các điểm
cốt hoá: các điểm cốt hoá xuất hiện có giá trị rất lớn, trong chẩn đoán
bệnh ở người trước tuổi trưởng thành.
Ví dụ: sự chậm xuất hiện trong bệnh phù niêm, sớm trong cường tuyến giáp
trạng ở trẻ em.
2. THĂM D̉ CHỨC NĂNG.
Trong việc khám các tuyến nội tiết, thăm ḍ
chức năng tuyến giữ vị trí hết sức quan trọng. Trong một số tuyến nội tiết,
lúc bắt đầu cửa bệnh, chỉ có rối loạn trong thể dịch, phải phát hiện bằng
xét nghiệm sinh hoá.
Phương pháp chủ yếu để thăm ḍ chức năng
tuyến nội tiết là:
2.1. Định
lượng một số chất trong máu như:
- Định lượng Na, Cl, glucoza máu, K… để nghiên cứu
chức năng vỏ tuyến thượng thận.
- Định lượng Iot trong bệnh tuyến giáp trạng.
- Định lượng glucoza máu trong bệnh tuyến tuỵ tạng.
-
Định lượng P, Ca trong bệnh
tuyến cận giáp trạng….
2.2. Định lượng một số Hocmon và dẫn xuất của chúng thải
ra trong nước tiểu như:
- Định lượng 17 xetosieroit,
andosteron, 17 hydroxycocticosteroit, trong bệnh vỏ thượng thận.
- Định lượng adrenalin, noadrenalin trong bệnh tuỷ
thượng thận.
- Định lượng glucoza trong nước tiểu, trong đái tháo
đường.
- Định lượng iot trong
nước tiểu, trong bệnh tuyến giáp trạng…
2.3. Một
số nghiệm pháp thăm ḍ chức năng tuyến. Trong đó chủ yếu là áp dụng các
phương pháp kích thích và ḱm hăm dựa trên vai tṛ điều chỉnh của các tuyến,
thí dụ:
- Nghiệm pháp
Thorn trong bệnh Addison.
- Nghiệm pháp Kater Robins trong bệnh đái tháo nhạt và
sự liên quan có đi có lại của hạ khân năo và tuyến yên đối với các tuyến nội
tiết khác.
- Nghiệm pháp Wetner và Qúerido, trong bệnh tuyến
giáp.
Sau khi đă thăm khám kỹ lâm sàng, các biểu
hiện bệnh lư trên người bệnh giúp ta hướng tới một bệnh nào đó, lúc ấy cần
phải cân nhắc để tiến hành các nghiệm pháp thăm ḍ về h́nh thái và chức năng
cần thiết cho mỗi bệnh.
Cuối cùng chúng ta phải tổng hợp xem các biểu
hiện ấy thuộc hội chứng suy hay cường của tuyến nào?
III. CÁC HỘI CHỨNG CHỦ YẾU.
Các bệnh nội tiết có thể chia thành ba nhóm:
1. Hội chứng cường hay suy một tuyến.
Các hội chứng cường hay suy đơn thuần của
tuyến có thể thấy trong hầu hết các tuyến nội tiết:
1.1. Hội chứng cường tuyến: thường đo sự phát triển (lành hay ác tính)
của tổ chức tuyến gây ra. Người ta có thể gây ra hội chứng này trên súc vật
hoặc trên người bằng cách dùng Hocmon kéo dài (ví dụ bộ mặt kiểm Cushing, khi
dùng quá lâu thuốc Cocticoit).
1.2. Hội chứng suy tuyến:
thường do sự phá huỷ tổ chức tuyến bởi một khối u (lành hay ác tính), bởi
nhiễm khuẩn ( như lao trong Addison). Sau phẫu thuật cắt bỏ tuưên. Người ta có
thể gây ra hội chứng này trên súc vật hay trên con người bằng việc cắt bỏ nhu
mô tuyến (như trong phù niêm, sau khi phẫu thuật cắt bỏ giáp, chứng tatani
sau khi cắt tất cả các tuyến cận giáp trạng).
2. Hội chứng phối hợp các rối loạn của nhiều tuyến.
Rất phức tạp, ở đây chỉ nêu lên
hai loại.
2.1. Thuỳ trước tuyến yên: coi như “ nhạc trưởng” chỉ huy tất cả các
tiết ra kích giáp tố, kích tố vỏ thượng thận, kích sinh dục tố. Trong trường
hợp suy thuỳ trước tuyến yên, người ta thấy suy giáp trạng, vỏ thượng thận,
sinh dục: đó là trường hợp điển h́nh của suy nhiều tuyến.
2.2. Trong
rất nhiều
bệnh nội tiết:
(cường giáp trạng, suy giáp trạng, cường vỏ thượng thận…) thấy có suy sinh
dục.
3. Các hội chứng phối hợp rối loạn thần kinh và rối
loạn nội tiết.
C̣n phức tạp hơn
nữa. Ví dụ bệnh Basedow. Do năo trung ương – tuyến yên bị tổn thương (v́ xúc
động, nhiểm khuẩn…) hoạt động rối loạn, đưa lại kết quả là cường kích tố
giáp trạng của tuyến yên. Sự quá tiết kích giáp tố này dẫn tới cường chức
năng giáp trạng và các rối loạn về thần kinh trong bệnh Basedow.
IV. KẾT LUẬN.
Các tuyến nội tiết tham gia vào các quá
tŕnh hoạt động rất quan trọng của cơ thể. Thiếu chúng cơ thể không thể sống
được.
Các biểu hiện lâm sàng của các bệnh nội tiết
cũng muôn màu muôn vẻ sự thay đổi về sinh hoá cũng rất phức tạp.
Nhưng mỗi bệnh cũng có biểu hiện riêng, có
những thay đổi về thể dịch đặc hiệu, nên nếu biết thăm khám tỉ mỉ, biết kết
hợp lâm sàng và các phương pháp thăm khám cận lâm sàng tuyến, th́ có thể phát
hiện được bệnh.
|