TRIỆU CHỨNG HỌC TUYẾN
GIÁP TRẠNG.
Tuyến giáp trạng là một tuyến
nằm nóng nhất trong tuyến nội tiết. Đó là thuận lợi khi khám lâm
sàng.
I. GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ TUYẾN GIÁP TRẠNG.
1. Giải phẫu.
Tuyến giáp trạng là một tuyến
đơn, nằm sát khí quản, nặng chứng 30-35g. tuyến có hai thuỳ hai bên, cao 6cm,
rộng 3cm, dày 2 cm, nối với nhau bằng một eo giáp trạng. Eo giáp trạng này
hình bán nguyệt, áp sát vào mặt trước của vòng thứ 2, 3, 4 của khí quản.
Bình thường tuyến giáp bị cơ
ức, đòn, chũm che lấp, không sờ thấy được. Nhưng vì ở nông nên kh
hơi to đã có thể sờ và nhìn thấy được.
Mạch máu nuôi dưỡng tuyến
gồm hai động mạch giáp trên và hai động mạch giáp dưới. Những động mạch này
tạo ra xung quanh tuyến một màng lưới mạch máu khá dày. Trong bệnh Basedow hệ
thống mạch này căng đầy máu nên có thể sờ thấy rung miu và nghe
thấy tiếng thổi tâm thu hoặc tiếng thổi liên tục khi đặt ống nghe
vào vùng động mạch tuyến.
2. Sinh lý.
Là một tuyến nội tiết, tiết
chủ yếu ra thyroxin (tetraiodotyrisin và triiod tyrosin), Hocmon này có hai
tác dụng:
2.1.
Kích thích sự phát triễn tế bào và tổ chức tế bào, tác
dụng này đặc biệt quan trọng trên sự phát triển chung của toàn cơ thể.
2.2.
Tác dụng chuyển hoá ở khắp các bộ phận.
Biết sơ bộ về giải phẫu và
sinh lý bệnh tuyến giáp trạng, sẽ giúp ta khám lâm sàng và cận lâm sàng tuyến.
II. CÁC PHƯƠNG PHÁP KHÁM LÂM SÀNG TUYẾN.
1. Nhìn:
Bình thường không nhìn thấy tuyến giáp. Nhưng khi tuyến to lên
có thể nhìn thấy và khi người bệnh nuốt có thể thấy di động theo nhịp nuốt.
Nhìn có thể đánh giá sơ bộ về
hình thể, kích thước, loại to toàn bộ hay một phần…. Để bổ sung
cho phương pháp này, phải sờ và đo tuyến.
2. Sờ và đo tuyến giáp.
Là một bước quan trọng
và cần thiết, giúp ta xác định các loại tuyến. Người bệnh ngồi, tư thế thoải
mái, ở nơi đủ ánh sáng. Đầu hơi nghiêng ra trước để làm chùng cơ phía trước
giáp trạng. Hơi nâng cằm để mở rộng vùng giáp trạng cho dễ
sờ.
Ngón trỏ và ngón cái đè vào
giữa thanh quản và cơ – ức – chũm, sau đó bảo người bệnh nuốt, sẽ thấy tuyến
di động theo nhịp nuốt và đẩy ngón tay theo (Hình 13).

Hoặc dùng hai tay, một
tay để ở thanh quản, một tay ở ngoài cơ – ức – đòn chũm, tay ngoài đẩy vào,
tay trong sờ nắn từng thuỳ của tuyến.
Khi sờ nằn có thể xác định.
- thể
tích và giới hạn của tuyến.
- Mật độ tuyến cứng hay mềm.
- Mặt tuyến nhẵn hay gồ ghề.
- Tuyến to toàn bộ, một phần hay nhiều
nhân.
Nếu là một bướu mạch (goitre
vasculaire) khi sờ có thể thấy rung miu tâm thu hay liên tục.
Để theo dõi sự tiến triển của
tuyến, người ta thường đo tuyến giáp trạng. Dùng một thước dây đo vòng qua chỗ
to nhất của tuyến, ta đo khoảng nửa tháng hoặc một tháng đo lại một lần
để biết tuyến to hay nhỏ đi một cách chính xác.
3. Nghe:
Chỉ trong trường hợp bướu mạch, nghe mới có thể
thấy tiếng thổi tâm thu hay tiếng thổi liên tục. Tiếng thổi nghe thấy rõ
ở thuỳ trên phải và trái, là nơi mạch máu to đi vào tuyến. Khi nằm tiếng
thổi nghe rõ hơn khi ngồi.
Như Hocmon của các tuyến
nội tiết khác, hocmon tuyến giáp trạng có ảnh hưởng đến toàn thân người.
Vì vậy, sau khi khám tuyến, chúng ta phải khám các biến đổi về toàn thân do
rối loạn hocmon tuyến giáp trạng gây ra.
III. HỘI CHÚNG LÂM SÀNG SUY VÀ CƯỜNG TUYẾN GIÁP
TRẠNG.
1. Hội chứng suy giáp trạng – bệnh phù niêm.
Suy giáp trạng là một bệnh nội
tiết ít gặp thường thấy ở trẻ em hơn người lớn.
Bệnh suy giáp trạng có thể do
thiểu năng tuyến giáp trạng bẩm sinh hoặc sau phẫu thuật cắt bỏ tuyến, sau khi
dùng kéo dài thuốc kháng giáp trạng tổng hợp, hoặc sau khi tuyến
giáp trạng bị nhiểm độc hay nhiễm khuẩn, sau điều trị bằng I131.
1.1. Sự thâm nhiễm nhầy ở các tổ chức.
- Ở da:
+ Da có màu vàng sáp,
khô, tuyến bã và tuyến mồ hôi teo đi, móng tay, móng chân có ngấn
dễ gãy.
+ Mặt người bệnh béo
tròn như mặt trăng mắt híp lại môi dầy xụ, môi dưới trễ xuống.
+ Ngón tay, ngón chân mập mạp.
+ Hệ thống lông thưa thớt và
rụng dần. Người bệnh ở trong tình trạng phù mà không có dấu hiệu lõm lọ
mực.
- Ở niêm mạc:
+ Lưỡi dầy xụ, cử động khó
khăn.
+ Họng có khi bị phù, làm
người bệnh khó nuốt, nói khàn.
+ Niêm mạc nhạt màu.
- Ở nội tạng: có thể gây tràn dịch nhiều bộ
phận, thông thường nhất là tràn dịch màng tim loại nước vàng chanh, protein 30
– 40%.
1.2. Các bộ phận chậm phát triển.
- Rối loạn thần
kinh và trí tuệ:
+ Lười bệnh chậm chạp, buồn
ngủ, có khi ban ngày buồn ngủ, đêm lại không ngủ được.
+ Lười suy nghĩ, suy nghĩ
chậm.
+ Trí nhớ kém.
+ Nói ít, nói tiếng một,
cận kệ không hoàn chỉnh.
- Rối loạn về sinh
dục:
+ Đàn ông: tinh hoàn và dương
vật bị teo.
+ Đàn bà: thường bị tắt
kinh, tử cung, buồng trứng bị teo lại.
+ Biếng ăn, sợ thịt và mỡ.
+ Táo bón thường xuyên.
- Rối loạn tim
mạch.
+ Tim mạch đập chậm và yếu.
+ Huyết áp hạ.
+ Tim có khi to toàn bộ.
Trên đây là bệnh phù niêm, suy
giáp trạng điển hình, nhưng nhiều khi suy ở mức độ nhẹ, trên lâm sàng
chỉ có một vài dấu hiện không điển hình như da khô, táo bón,
mạch chậm, tinh thần chậm chạp..
2. Hội chứng cường giáp: bệnh BASEDOW.
Trong thể điển hình, các triệu
chứng giáp trạng phối hợp hai loại:
2.1. Triệu chứng cường giáp trạng.
- Nhịp tim
nhanh: là triệu chứng trung thành
nhất, bao giờ cũng có. Thường là nhịp xoang nhanh từ 90-140 /phút, đều và liên
tục. Đôi khi có ngoại tâm thu và loạn nhịp hoàn toàn.
- Bướu giáp trạng: bướu thường nhỏ. Đây là bướu
mạch, sờ đôi khi thấy rung miu tâm thu hoặc liên tục. Bướu bao giờ cũng di
động theo nhịp nuốt, không đau, hơi căng. Bướu thường to lên trong các
đợt tiến triển. Cũng có khi bướu có một hay nhiều nhân. Rất ít khi
không sờ thấy bướu, có thể do bướu, phát triển vào sâu trong lồng
ngực nên không sờ thấy.
- Nghe bướu có
thể thấy tiếng thổi tâm thu hay tiếng thổi liên tục.
- Gầy, sút nhanh:
Gầy nhanh, và gầy toàn thể, nhất là trong các đợt tiến triển,
mặc dù người bệnh ăn rất nhiều. Vì vậy phải thường xuyên theo dõi cân nặng
người bệnh.
2.2. Triệu chứng rối loạn hạ khâu
não – yên:
- Mắt lồi: thường lồi cả hai bên. Có khi
lồi to làm mắt không nhắm kín được. Mắt sáng long lanh, mi mắt thường co giật,
người bệnh không làm được động tác hội tụ hai nhãn cầu.
Đáy mắt và nhãn áp bình
thường. thị lực có khi hơi kém, làm người bệnh nhìn mờ dần.
- Run tay: run ở đầu ngón tay và
bàn tay, run đều, biên độ nhỏ, run tăng lên khi bị xúc động hay lo sợ.
Có khi nhìn ngoài đã thấy tay
run rõ rệt, nhưng cũng có khi bảo người bệnh duỗi thẳng tay, để tờ giấy
lên mu bàn tay, thấy tờ giấy rung động nhiều do run tay.
IV. CÁC PHƯƠNG PHÁP THĂM DÒ CẬN LÂM SÀNG
TUYẾN GIÁP TRẠNG.
1. Thăm dò hình thái.
1.1. Soi và chụp tuyến giáp: cần thiết trong chẩn
đoán loại bướu giáp trạng ngầm (goitre plogenant); khi soi Xquang tuyến
giáp, kết hợp cho uống Baryt có thể thấy thực quản bị đẩy ra sau do
tuyến to đè vào thực quản.
Trong những bướu mạch ngầm,
không sờ thấy tuyến giáp, khi chụp có thể thấy hình tuyến.
1.2. Phóng xạ đồ. Cho người bệnh uống 10- 22
microcuries I131, 24 giờ sau chụp tuyến cận giáp trạng, lúc này
I131 đã tập trung nhiều ở tuyến. Vì thế khi đo hoặc ghi phóng xạ đồ
(scintillogramme) (hình 14) có thể biết:

- Sự giữ Iot
của tuyến nhiều hay ít (cường thì giữ nhiều, suy thì giữ ít,
đo bằng máy đếm phóng xạ).
- Sự phân bố iot của tuyến, nơi nào có nhân,
nóng, chỗ ấy giữ nhiều iot hơn. Các nhân này nhiều khi nằm sâu không phát hiện
ra.
- Biết rõ số lượng, hình thể, kích thước các
nhân đó, giúp ta trong việc phẫu thuật tuyến.
-
Cho biết phần sót lại sau khi phẫu
thuật tuyến, vì còn lại quá nhỏ, lâm sàng không phát hiện được.
2. Thăm dò chức năng.
1.1. Đo chuyển hoá cơ bản.
Bình thường từ - 10% +
10%.
Tăng trong cường giáp trạng:
+20%.
Hạ trong suy giáp trạng: <
-10%
1.2. Định lượng Cholesteron máu.
Bình thường: 1,8g – 2,3g%.
Giảm trong cường giáp trạng.
Tăng trong suy giáp trạng.
1.3. Định lượng glucoza máu.
Bình thường: 0,8 – 1,2g%.
Tăng trong cường giáp trạng.
Giảm trong suy giáp trạng –
Nghiệm pháp tăng đường huyết bằng đường uống Glucoza có thể rối loạn
kiểu đái đường.
1.4. Định lượng iot huyết tương.
Bình thường 6 - 8mg%.
Cường giáp trạng, tăng
từ 12 - 50mg%.
Suy giáp trạng hạ dưới
3,5 mg%.
1.5. Iot phóng xạ: xét nghiệm quan trọng và
chính xác nhất, là nghiên cứu khả năng giữ I131 của tuyến giáp trạng.
I131, ngoài tia b hoàn toàn bị
hấp thụ bởi các mô, phần lớn các tia phóng xạ có thể đếm được bằng máy đếm
Geiger – Muller.
Một tháng trước khi làm nghiệm
pháp, người bệnh không được dùng thuốc kháng giáp trạng hay bất cứ một
loại thuốc nào có iot (lugot), diiodotyrosin, cả iot dùng chụp
Xquang như lipiodol… Cho người bệnh uống khoảng 100 Micro-curies I131
dưới dạng Natri Iodua pha loãng với nước, uống sáng sớm, lúc đói. Sau đó uống
tiếp 25ml dung dịch sinh lý để kéo iot còn dính lại ở niêm mạc mồm và thực
quản.
Bình thường: đường biểu diễn
dự giữ iot tăng cao nhất ở giờ thứ 6 - 8 rồi hạ thấp dần ở giờ thứ
24.
Giờ thứ 2 giữ khoảng
8%
Giờ thứ 4 giử khoảng 12%
Giờ thứ 6 giữ khoảng 30%
Giờ thứ 24 giữ khoảng 38%
Trong cường giáp trạng iot
được giữ nhiều.
Giờ thứ 6: giữ trên 50%
Giờ thứ 24 giảm xuống thấp.
Trong suy giáp trạng:
giờ thứ 6 giữ dưới 20%; giờ thứ 24 gần như không còn mấy;
Nếu đồng thời định lượng
iot thải ra trong nước tiểu, sẽ thấy:
Bình thường sau 24 giờ, 60%
iot được thải ra.
Cường giáp trạng: loại
ra chừng 15 -20%.
Suy giáp trạng loại ra 90%.
Nói chung trong cường
giáp trạng, ở giờ thứ 2 và thứ 4 rất nhiều iot đến giờ 24
giảm thấp so với lúc đầu.
Trog suy giáp trạng, sự thu
nạp iot từ giờ thư 2 đến giờ thứ 24 đều rất thấp.
V. CHẨN ĐOÁN.
1. Chẩn đoán bướu giáp trạng.
Nếu thấy một khối u nằm ờ vùng
giáp trạng di động theo nhịp nuốt thì có thể gần chắc chắn là một bướu
giáp trạng nhưng cần phân biệt với:
- Hạch ở cổ: hạch nằm sát dưới da, giới hạn
tương đối rõ rệt, mật độ thường chắc hơn tuyến giáp trạng và không di động
theo nhịp nuốt.
- Mô mỡ dưới da:
nhiều khi không giống như bướu giáp trạng. Nhưng rất mềm, không giới hạn
rõ rệt và không di động theo nhịp nuốt.
Nếu chẩn đoán xác định một
bướu giáp trạng tương đối dễ thì việc chẩn đoán nguyên nhân nhiều khi
khó và phức tạp hơn.
2. Chẩn đoán nguyên nhân.
2.1. Cường giáp trạng Basedow.
2.2. Suy giáp trạng: phù niêm (Myxoedème).
2.3. Bướu giáp trạng đơn thuần: là loại u giáp trạng lành
tính, do quá sản tổ chức tuyến, bệnh do hai trường hợp gây nên:
- Do
thiếu iot tương đối so với so với yêu cầu tăng lên của cơ thể: bướu ở tuổi dậy thì (goitre pulertaire), bướu trong thời kỳ
thai nghén hoặc cho con bú.
- Do thiếu iot thường
xuyên: đây là loại bướu giáp trạng địa phương (goitre endémique), thường gặp ở
một số dân miền núi. ở đó nước ăn nghèo iot hoặc các chất làm rối loạn chuyển
hoá iot.
2.4. Viêm giáp trạng.
- Viêm cấp và bán
cấp: bướu sưng to đau, có triệu
chứng nhiềm khuẩn kèm theo. Thường khỏi tự nhiên sau vài ngày đến vài
tuần, hoặc sau điều trị Cocticoit và kháng sinh.
- Viêm mạn tính không
đặc hiệu:
+ Bệnh Hashimoto: viêm
giáp trạng thâm nhập limpho. Bướu to vừa lan toả, lúc đầu mềm mềm hơi
chắc (như cao su). Về giải phẫu bệnh học: nhiều tế bào limphô xâm nhập
trong tuyến. Không bao giờ khỏi tự nhiên.
+ Bệnh Riedel: vì giáp
trạng mộc hoá. Tuyến giáp trạng bị xâm nhập bởi tế bào nan hoa
(plasmocyte) và tế bào limphô, xơ hoá nhiều hơn, làm chức năng tuyến giảm
nhiều.
-
Bướu to, có nhân, cứng như gỗ.
- Thường gây triệu chứng như chèp ép khí phế quản,
có khi chẩn đoán nhầm ung thư.
Trên đây chúng tôi đã trình
bày về lâm sàng, cận lâm sàng và một số nguyên nhân gây bướu giáp trạng.
Để dễ theo dõi, tôi xin tóm tắt vào một bảng sau đây:
|
|
|
Bình thường |
Suy giáp trạng |
Cường giáp trạng |
Bướu đơn |
Ung thư |
Viêm cấp, bán cấp |
Riôđen |
Hasimôtô |
|
Lâm sàng
|
|
|
Thâm nhiễm nhầy ở các mô
Các bộ phận chậm phát
triển |
Hội chứng cường giáp
trạng
Rối loạn hạ khâu
não - yên |
Chỉ có bướu đơn thuần |
Bướu to nhanh, cứng lổn
nhổn, ít di động, có di căn hạch. |
Bườu sưng to đau. Khỏi
tự nhiên hoặc sau điều trị |
Bướu to, có nhân cứng
như gỗ, gây chèn ép khí quản
|
Bướu to lan toả cứng vừa |
|
Cận lâm sàng |
Chuyển hoá cơ bản
|
-10à+
10%
|
æ
|
ä
|
^
|
Nói chung ^
|
^
|
^ hoặc æ
|
^ hoặc æ
|
| Glucoza máu |
0,8à
1,2g% |
æ
|
ä
|
^
|
^
|
^
|
|
|
| Chelesterol máu |
1,6à2,3g% |
ä |
æ |
^ |
^ |
|
|
|
| Iot máu |
6-8 gamma%
|
æ
|
ä |
^
|
|
|
|
|
| I131 |
Giờ thứ 6: 30% |
æ |
ä |
^
hoặc hơi ä
|
Tập trung ở nhân ung thư
ít |
|
|
|
|