TUYẾN CẬN GIÁP TRẠNG
Tuyến cận giáp trạng là một tuyến nội tiết
đóng vai trò chủ yếu trong việc chuyển hoá canxi phốtpho.
Tuyến cận giáp trạng gồm 4 tuyến nhỏ bằng
hạt đậu ( có người có tới 6 – 7 tuyến) nằm sát ngay sau tuyến giáp trạng. Bởi
che lấp bởi tuyến giáp trạng, nên không nhìn sờ thấy khi khám lâm sàng.
Vì thế trước khi đi vào biểu hiện lâm sàng
của tuyến, cần biết vai trò sinh lý của tuyến để tìm ra các phương pháp thăm
dò tuyến chức năng.
I. SINH LÝ TUYẾN CẬN GIÁP TRẠNG.
Vì tuyến cận giáp trạng đóng vai trò chủ yếu
trong việc chuyển hoá canxiphotpho, nên nghiên cứu sinh lý tuyến cũng tức là
nghiên cứu chuyển hoá canxi photpho.
1. Chuyển hoá canxi.
Canxi được đưa vào cơ thể từ thức ăn, được
ruột hấp thụ, chứa đựng chủ yếu ở xương, ở máu, thải trừ phần thừa ra nước
tiểu và phân.
Bình thường mỗi ngày cần chừng 0,5g – 1g, ở
người lớn, 1,5 – 2g ở thời kỳ đang phát triển và ở trẻ đang bú.
Trong những điều kiện bình thường, 75% canxi
ăn vào được thải ra theo phân.
Canxi ở phân nhiều hơn ở nước tiểu. Trái lại
trong cường cận giáp trạng, canxi ở nước tiểu nhiều hơn ở phân.
Dưới tác dụng điều chỉnh của tuyến cận giáp
trạng, canxi máu luôn luôn giữ mức hằng định, khoảng 80 – 100mg% (4-5mEq%0).
Phần lớn số canxi này nằm trong huyết tương, ở hồng cầu chỉ có rất ít. Bằng
phương pháp siêu lọc người ta có thễ tách chúng ra hai phần:
- Canxi siêu lọc (hay canxi khuếch tán) chiếm 50-60%.
- Canxi không siêu lọc (canxi không khuếch tán):
40-50%.
Loại canxi siêu lọc phần lớn là loại canxi
ion hoá. Lượng canxi này có tác dụng sinh hoá đối với cơ thể các mặt:
- Tham
gia vào chức năng của tim: cơ tim mẫn cảm với sự thay đổi canxi máu, hạ
canxi sẽ làm khoảng QT kéo dài trên điện tâm đồ.
- Rất cần cho thẩm thấu màng tế bào và tham gia quá
trình đông máu.
2. Chuyển hoá photpho.
Photpho được phân chia rộng rãi ở nhiều bộ
phận trong cơ thể, ở xương 80%, phần còn lại nằm ở trong nước gian bào, trong
nguyên sinh chất tế bào.
Bình thùong, 30% photpho ăn vào được thải ra
qua nước tiểu, 70% được thải theo phân.
Ở đây chúng tôi không nói tới tác dụng sinh
lý của loại photpho nằm trong phần lớn các hợp chất hữu cơ. Loại này đóng vai
trò quan trọng trong quá trình photphoryl hoà và trong sự đìều chỉnh thăng
bằng axit – bazơ nhờ hệ thống đệm phốtphat.
Ở đây chỉ nói tới vai trò sinh lý trong máu,
loại này gồm hai phần:
- Photpho hữu cơ: khoảng 90mg%.
- Phôtpho vô cơ: khoảng 30-35mg% (1,7 – 2,6 mEq%0).
Trong giai đoạn phát triển của cơ thể,
photpho kết hợp với canxi tham gia vào việc tạo cốt.
Trong huyết tương, lượng canxi ion hoá và
photpho, ion hoá liên hệ rất mật thiết với nhau. Sự liên hệ này được biểu
diễn bằng một công thức:
Ca x P = K (K là hằng số).
Khi canxi tăng thì photpho giảm và ngược lại.
Sự hiểu biềt về vai trò sinh lý của canxi và
photpho, và sự liên quan giữa chúng sẽ giúp ta trong việc nghiên cứu chứng
cường và suy cận giáp trạng.
II. BIỂU HIỆN LÂM SÀNG.
1. Suy cận giáp trạng chứng TETANI.
Khi canxi máu hạ xuống dưới 70mg% thì có thể
thấy các triệu chứng Tetani.
Nhưng sự xuất hiện cơn têtani con phụ thuộc
vào các yếu tố khác: tình trạng kiềm trong máu dễ gây ra Têtani,trái lại tình
trạng axit trong máu ít gây têtani hơn. Vì khi máu bị kiềm thì tỷ lệ canxi
ion hoá bị hạ thấp, khi máu axit thì ngược lại.
Về các biểu hiện của têtani, có thễ chia làm
2 loại:
1.1. Cơn
Têtani rỏ rệt. Biểu hiện lâm sàng:
1.1.1. Cơn co thắt các đầu chi: bắt đầu ở các ngón tay, ngón chân,
đối xứng hai bên; người bệnh cảm giác buồn buồn như kiến bò, như kim châm. Rồi
các sợi cơ lưng bàn tay giật giật làm các ngón tay run run. Sau đó các ngón
tay co quắp lại như tay ngùơi đỡ đẻ. Trong cơn có khi kéo ngón tay ra được, có
khi không. Sự tuần tự của các cơn này rất giống nhau. Mỗi cơn kéo dài chừng
3 phút đến hàng giờ.
1.1.2. Co thắt các tạng:
thường thấy nhất ở trẻ con. Có thể gây co thắt thanh môn trong thì thở vào,
làm người bệnh ngạt thở. Cũng có thể gây co thắt dạ dày, làm đau vùng thượng
vị.
1.1.3. Các phản xạ gan xương:
Hơi tăng, nhưng không bao giờ có Bakinski.
1.2. Têtani tiềm tàng: trường hợp này bình thường không thấy Têtani
xuất hiện. Người ta phát hiện các trường hợp têtani tiềm tàng bằng các cách
sau đây:
1.2.1. Hiện tượng kích thích điện
quá mức: khi người ta thăm dò các
dây thần kinh bằng dòng Galvanic trên người bị têtani tiềm tàng, người ta
thấy ở cực âm, thềm kích thích bị hạ thấp khi đóng dòng điện, và ở cực dương,
thềm kích thích hạ thấp khi mở dòng điện (dấu hiệu Enb).
Mặt khác, lúc mở dòng điện gây co cứng mạnh
hơn lúc đóng ( ngược lại với bình thường). Ở người bình thường, khi dùng dòng
điện galvanic 2 miliampe sẽ gây co cơ, ở người tetani, chỉ cần một dòng
điện 1mA.
Các dấu hiệu này thường có sớm. Nếu các dấu
hiệu này không rõ rệt; người ta có thể làm chúng xuất hiện bằng nghiệm pháp
thở sâu.
1.2.2. Nghiệm pháp thở sâu. Bảo người bệnh thở sâu, chậm khoảng 13-15
nhịp trong một phút. Khoảng 2-3 phút đầu, người ta thấy trên người bị têtani
tiềm tàng sẽ lên cơn têtani rõ rệt hoặc gây co cứng bàn tay giống như khi lên
cơn têtani.
Trên người bình thường, nếu thở sâu quá lâu,
gây tình trạng kiềm nhiều cũng có thể xuất hiện cơn têtani. Vì thế nghiệm
pháp chỉ chỉ có giá trị khi cơn têtani xuất hiện (ngay ở 2-3 phút đầu hoặc
sau 35 nhịp thở sâu).
1.2.3. Dấu hiệu Chvostek: gõ nhẹ vào giữa đường nối nhân trung gò
má, trong trường hợp bị têtani tiềm tàng, gây ra co cứng cơ quanh mép, làm cơ
môi mép bên đó bị giật.
1.2.4. Dấu hiệu Trousseau.
Ít gặp hơn dấu hiệu Chvostek. Dùng một dây cao su buộc cánh tay lại như khi
lấy máu tĩnh mạch (có thể lấy bao bọc tay của một máy đo huyết áp, bơm lên
đến số tối đa), ngay 1-2 phút đầu sẽ gây co cứng bàn tay như trong cơn
têtani.
2. Bệnh cường giáp trạng: bệnh phôn rếchlinhaoden.
Bệnh này thường gặp ở tuổi 30- 60. là một
bệnh trường diễn. Lúc bắt đầu, các biểu hiện thường âm thầm. Có thể thấy các
rối loạn tiêu hoá (buồn nôn,nôn mửa, đau bụng saukhi ăn, táo bón); các rối
loạn tiết niệu (đái nhiều, ăn nhiều).
Trong giai đoạn toàn phát, bệnh biểu hiện
trên các triệu chứng sau đây:
2.1. Các
rối loạn về xương:
- Đau xương:
lúc đầu đau nhẹ, chỉ khi đi lại mới đau, nhưng lúc sau đau liên tục hoặc
có từng cơn đau dữ dội, làm cho người bệnh nằm liệt tại giường mất ăn, kém
ngủ.
- U các huỷ cốt bào: thường thấy nhất ở xương hàm hay
ở phía đầu ngoài các xương dài. Có khi đây là các dấu hiệu đầu tiên.
- Gãy xương tự nhiên: có khi một xương nào đó tự nhiên
bị gãy, cũng có khi mộtva chạm nhỏ cũng gây xương gãy. Dấu hiệu này thấy muộn
hơn.
- Biến dạng xương: ở chi dưới, có thể thấy một cục
xương nhô ra. Cột sống có thể bị gù, vẹo và sụp
2.2. Suy
nhược. Có thễ gây suy nhược toàn thân nặng, dẫn tới
bại hai chi dưới, các phản xạ gân xương giảm. Cũng có thể thấy rối loạn tinh
thần như hoang tưởng hoặc sầu uất.
2.3. Hội chứng thận. Có thể gây đái ra máu do sỏi thận hai bên. Có
khi gây suy thận nặng.
2.4. Hội chứng tiêu hoá: biếng ăn, nôn mửa, đôi khi có cơn đau bụng
cấp.
2.5. Khám vùng tuyến giáp trạng: ít khi thấy có khối u vùng này. Tuy nhiên
cũng có thể thấy một khối u nhỏ bằng hạt dẽ nằm sát sau giáp trạng, tưởng là u
giáp trạng, nhưng chính là u cận giáp trạng.
Các biểu hiện lâm sàng của suy và cường
cận giáp trạng nhiều khi khá điển hình, giúp ích nhiều cho chẩn đoán, song
muốn chắc chắn, và nhất là muốn biết rõ mức độ, cần phải thăm dò chức năng
tuyến.
III. THĂM DÒ TUYẾN CẬN GIÁP TRẠNG.
Chủ yếu là thăm dò chức năng tuyến và kiểm
tra Xquang hệ thống xương để biết tình trạng mất chất vôi do cường tuyến
gây ra.
1. Dấu hiệu về Xquang.
1.1. Phát hiện sự mất chất vôi hệ
thống xương: trong trường hợp
cường cận giáp trạng hệ thống xương mất chất vôi rõ rệt: lúc dầu ở các xương
dài, xương chậu, xương sọ và các đầu chi, về sau toàn bộ xương đều bị.
1.2. Hình hang xương. Do mất chất vôi khu trú một nơi,
tạo thành các hang xương. Thường thấy ở các xương dài, xương sọ, xương hàm.
Chỉ bị ở xương, còn ngoại cốt thường không bị.
1.3. Hình sỏi ở nhiều bộ phận. Thường nhất là sõi thận hai bên.
Có khi thấy vôi hoá ở phổi, tuỵ.
Trong một số trường hợp, chụp Xquang vùng
cổ có thể thấy vôi hoá tuyến cận giáp trạng.
2. Thăm dò chức năng.
2.1. Định lượng canxi máu:
- Bình thường: 80
– 100 mg% (4-45mEq%).
- Giảm nhiều trong suy cận giáp trạng: 40-70%0
-
Tăng nhiều trong cường cận giáp
trạng: 150 – 200mg%0
2.2. Định lượng photpho máu.
- Bình thường 30-45%
- Giảm trong cường cận giáp trạng:
10-25mg%0.
- Tăng trong suy cận giáp trạng:
60 – 80 mg %0.
2.3. Định lượng canxi niệu.
- Bình thường
đào thải ra nước tiểu trong 24 giờ: 200mg.
- Giảm nhiều trong suy cận giáp trạng, có thể giảm
xuống 1 – 2 mg.
-
Tăng nhiều trong cường cận giáp
trạng: từ 3 -5 lần hơn bình thường.
2.4. Định lượng photphotaza kiềm trong máu.
- Bình thường
2- 4 đơn vị Bodalski.
- Tăng trong cường cận giáp trạng: 10-20 đơn vị
Bodalski.
2.5. Định lượng Kali máu: Ion Kali có nhiệm vụ sinh lý tương kị với ion
canxi, khi canxi máu tăng, kali máu giảm, và ngược lại. Khi có hạ canxi máu dễ
bị lên cơn têtani.
- Bình thường 200mg%0 (5mEq%0).
- Có thể tăng trong suy cận giáp trạng.
Trong xét nghiệm trên, định lượng canxi máu
có giá trị hơn cả.
Trong trường hợp các xét nghiệm ấy còn chưa
rõ rệt, người ta làm thêm nghiệm pháp:
- Nghiệm pháp Hoccard gây đái ra photpho.
Tiêm chậm trong 4 giờ, 1 lít dung dịch sinh chứa 1,5g canxi cho mỗi cân nặng
người bệnh.
Bình thường canxi máu tăng làm giảm hoạt động
của cận giáp trạng và kéo theo việc giảm nhiều photphat trong nước tiểu ở giờ
thứ 6, photpho máu giảm từ 10-15mg.
Khi cường cận giáp trạng, chỉ thấy photphat
nước tiểu giảm nhẹ, lượng photpho máu không thay đổi.
Khi suy giáp trạng, trái lại, photphat nước
tiểu rất tăng.
- Nghiệm pháp với AT.110: Trên người bình thường, sau
khi uống 7 ngày, mỗi người 40 giọt AT.10. canxi máu tăng từ 10 - 20mg.
Ở người bị têtani, canxi máu ít thay đổi.
Để dễ nhớ, có thể tóm tắt vào một bảng sau:
|
Bệnh |
Lâm sàng |
Canxi máu |
Photpho máu |
Canxi niệu |
Photophat taza kiềm |
Xquang |
Rhéebas |
|
Bình thường |
|
80 -100 mg%0 |
30 - 45mg%0 |
200mg%0 |
2 – 4
đơn vị Bodanxki |
|
2 mA |
|
Suy |
Cơn
têtani Chvostek +
Trousseau +
Thở sâu gây cơn têtani. |
æ
40 – 70 mg%0 |
60 – 80 mg%0
æ
|
1 - 2mg%0
æ
|
|
|
3mA |
|
cường |
Đau xương U
Gãy xương
Biến dạng xương |
æ
150 – 200 mg%0 |
10 - 25mg%0
æ
|
600 - 100 mg%0
æ
|
10 – 20 đơn vị |
- Mất chất vôi toàn bộ
hệ thống xương
- Sỏi thận |
1mA |
|