LIỆT NỬA THÂN
Liệt nửa thân là khi
mất hoặc giảm vận động ở một hoặc nhiều dây thần kinh sọ năo, một chân, một
tay. Ở đây rối loạn về vận động là chính, do tổn thương bó tháp, c̣n rối
loạn về cảm giác chỉ có ít phụ mà thôi.
I. PHÁT HIỆN CHỨNG LIỆT NỬA THÂN.
Việc phát hiện chứng liệt nửa thân có khi
rất dễ ( khi người bệnh tỉnh táo) nhưng cũng có khi rất khó ( khi người bệnh
liệt nhẹ hoặc hôn mê sâu).
1. Trường hợp người bệnh hôn mê.
Thường liệt nửa thân ở thể mềm. Chúng ta phải
t́m triệu chứng liệt các dây thần kinh sọ năo, một tay, một chân.
1.1. Liệt dây VII:
Trong trường hợp hôn mê, phải quan sát kỹ mặt người bệnh và sẽ thấy:
- Nếu liệt trung ương”
+ Nếp nhăn mắt, mũi, má, mép rất rơ ở bên
lành, rất mờ ở bên liệt.
+ Mồm, nhân trung lệch sang bên
lành.
+ Khi thở, má bên liệt phập
phồng theo nhịp thở như người hút thuốc.
+ Dấu hiệu Pierre Marie và Foix:
khi ấn mạnh hai ngón tay ở góc hàm, chỉ thấy mồm, má bên lành cử động.
- Nếu liệt ngoại biên:
+ Liệt như trên, ở đây nếp nhăn trán bên
liệt cũng mờ.
+ Thêm dấu hiệu Charles Bell: khi nhắm, mắt
không kín, ḷng đen đưa lên trên.
1.2. Liệt một chân một tay.
-
Quan sát một lúc lâu, sẽ thất một bên tay và một bên chân người bệnh
không cử động. Nếu kích
thích chi bên liệt, không thấy phản ứng.
- Trương lực cơ tay và cơ chân bên liệt giảm.
- Nếu nâng hai tay lên khỏi mặt giường rồi bỏ rơi
xuống, ta sẽ thất tay bên liệt rơi ngay xuống một cách nặng nề như không có
một sức chống đỡ nào. Đối với chân cũng vậy. Chân liệt cũng rơi xuống trước
và nặng nề.
- Phản xạ gân: giảm so với bên lành, có khi mất hẵn.
- Phản xạ da b́u mất ở bên liệt.
- Phản xa da bụng mất ở bên liệt.
- Dấu hiệu Babinski thường có.
2. Trường hợp người bệnh tỉnh.
Thầy thuốc có thể phối hợp với người bệnh
khi tiến hành khám bệnh . có thể gặp hai trường hợp sau đây:
2.1. Liệt cứng.
2.1.1. Liệt nửa mặt:
Ngoài các triệu chứng quan sát thấy như
trên, muốn thấy rơ hơn, có thể bảo người bệnh làm mấy động tác sau đây
-
Há và mím chặt mồm.
Ta quan sát nếp răn mép, mồm trong lúc vận động sẽ thấy bên lành rơ
và nhiều nếp nhăn. Bên liệt ít và mờ hơn nhiều.
- Nhắm và trợn mắt: quan sát nếp răn mắt và trán: cũng
thấy bên lành nhiều và rơ, bên liệt ít và mờ.
Người
bệnh ăn cơm sẽ thấy cơm chảy
qua bên liệt do hai môi khép không kín.
2.1.2. Liệt một tay một chân:
Do liệt cứng, nên người bệnh thể hiện đầy
đủ các triệu chứng của bó tháp bị kích thích. Ở nửa bên liệt có:
-
Trương lực cơ: co cứng kiểu bó tháp:
+ Rơ rệt ở ngọn chi hơn gốc chi: các cơ
tham gia động tác hữu ư nhiều (như cơ gấp ở chi trên, cơ duỗi ở chi dưới) càng
cứng nhiều, đi đến tư thế điển h́nh: bàn tay nắm, các ngón tay bám chặt vào
ḷng, ngón cái gấp vào trong, cổ tay gấp vào cẳng tay, cánh tay khép dính vào
thân, chi dưới duỗi thẳng.
+ Có tính chất đàn hồi: khi đặt cho một chi
ở tư thế mới, chỉ một tí lại trở về tư thế cũ.
+ Tăng lên khi vận động hữu ư: người bệnh cố
gắng vận động, chi đó lại cứng thêm. V́ thế người bệnh đi lại khó khăn.
+ Xuất hiện các đồng tác (syncinésie): đồng
tác là những đồng tác tự động gắn với các tác động hữu ư và không tách rời
chúng. Có hai đồng tác chính:
Đồng tác toàn bộ (Syncinésie Glibale) hoặc co
cứng: khi có một sự gắng sức ở
bên chi lành, toàn bộ chi liệt cử động.
Đồng tác bắt chước:
là những đồng tác chủ động của một chi khi bên đối xứng làm một động tác
giống hệt.
+ Phản xạ gân xương tăng ở bên liệt: ở mức
độ cao có thể thấy phản xạ lan truyền, đa động, bàn chân hoặc xương bánh chè
có dấu hiệu giật liên tục (clonus du piet et de la route).
+ Phản xạ da bụng, da b́u, mất ở bên liệt.
+ Dấu hiệu Babinski ở chi dưới (+), dấu
hiệu Hoffmann ở chi trên (+).
2.2. Liệt mềm:
nửa người bên liệt có:
-
Giảm trương lực cơ: phát hiện bằng sờ nắn, ve vẩy,
co doăi cơ.
- Phản xạ gân xương, giảm hoặc mất ở bên liệt.
- Phản xạ da bụng, da b́u, mất ở bên liệt.
- Có thể thấy dấu Babinski bên liệt.
Trong trường hợp liệt kín đáo, cần làm thêm
một số nghiệm pháp sau đây:
- Nghiệm pháp Barré chi trên: người bệnh nằm giơ thẳng hai tay và
nâng khỏi mặt giường 45 độ. Bên liệt không giữ ở tư thế đó lâu, rơi xuống
trước.
- Nghiệm pháp Mingazzini: người
bệnh nằm ngửa, đùi gập vào bụng 90 độ cẳng chân gập vào đùi 90 độ. Chân bên
liệt không giữ ở tư thế đó lâu, rơi xuống trước.
Sau khi phát hiện liệt nửa thân rồi, chúng
ta phải kiểm tra dây thần kinh sọ năo.
- Kiểm tra mắt: xem các dây thần kinh vận động mắt có bị
liệt hay không biểu hiện bằng lác trong, lác ngoài, đồng tử mở to…
- Kiểm tra họng: xem có liệt màn hầu, cựa gà và dây
thanh không. Gịong nói có thể thay đổi ǵ không, có phải là giọng hai âm
thanh không.
- Kiểm tra cơ ức đ̣n chũm và cơ
thang xem có bị liệt không, biểu
hiện bằng quay cổ khó khăn.
- T́m những vận động bất thường như run, múa vờn (chorée), múc
giật (athétose).
- Tim rối loạn cảm giác chủ quan. Chúng ta phải kiểm tra kỹ lưỡng
như thế để xác định địa điểm tổn thương.
II. CHẨN ĐOÁN ĐỊA ĐIỂM TỔN THƯƠNG.
Muốn hiểu
rơ địa điểm tổn thương cần nhắc qua
giăi phẫu bó tháp, bó gối.
Bó vận
động bắt nguồn từ khu vận động trên vỏ năo tới cuộn trán lên nằm phía
dưới rănh Rolando. Người ta chia bó vận động ra làm hai:
1. Tháp hay bó vơ năo gai:
Đi từ vỏ
năo xuống, qua bao trong qua thân năo rồi xuống tận cùng ở tuỷ. Đến 1/3 dưới
hành tuỷ, một số lớn các sợi bắt chéo
để sang phía bên kia, gọi là bó tháp chéo, c̣n một số ít đi thẳng xuống tuỷ,
là bó tháp thẳng.
2. Bó gối hay bó vỏ năo nhân:
Từ vỏ năo
qua bao trong, khi đến thân năo tách khỏi bó tháp, cho những sợi chéo sang bên
kia để tận cùng của các nhân vận động
của các dây thần kinh sọ năo ở thân năo (dây III, IV ở cuống năo; dây VI, VII
ở cầu năo: dây IX, X, XI, XII ở hành năo).
với sự
hiểu biết sơ bộ về bó tháp như vậy,
đứng trước một người bệnh liệt nửa thân, chúng ta có thể biết: tổn thương bên
nào, tổn thương chỗ nào.
3. Tổn thương bên nào?
-
Từ vỏ năo đến hành
tuỷ, bó tháp bắt chéo: tổn thương bên đối diện với liệt chi.
-
Từ hành tuỷ tới C4
của tuỷ: tổn thương cùng bên với liệt chi.
4. Tổn thương chỗ nào?
4.1. Tổn thương ở vỏ năo xám và dưới vỏ nào:
Vùng vỏ năo
và dưới vỏ năo là vùng vận động và cảm giác gần nhau. Các sợi thần kinh
ở đây lại toả rộng khắp vỏ năo, do đó ít khi bị tổn thương toàn bộ. Trên lâm
sàng sẽ thấy:
-
Liệt tay và chân không đều nhau.
-
Có rối loạn cảm giác.
-
Nói khó (thể Broca) v́ vùng trán lên ở gần
trung khu tiếng nói.
- Có cơn động kinh.
4.2. Tổn thương ở bao trong:
vùng bao trong gần nhân xám, các sợi thần kinh tập trung qua đó, cho nên tổn
thương vùng này sẽ thấy:
-
Liệt mặt, tay chân đều nhau.
- Không có rối loạn cảm giác.
Nếu tổn thương lan đến vùng đồi thị
(thalamus) và thể vân, chúng ta sẽ thấy thêm:
- Rối loạn cảm giác chủ quan ở nửa thân.
- Đau nửa người.
-
Các vận động bất thường như run
, múa giật, múa vờn nửa thân.
4.3. Tổn thương từ thân nảo trở xuống:
Tổn thương
từ bao trong trở lên v́ bó gối và bó tháp chưa bắt chéo nên liệt
nửa mặt và liệt tay chân ở cùng một bên đối chiếu với bên tổn thương.
Trái lại, tổn thương từ thân năo trở xuống v́
bó gối đă bắt chéo, c̣n bó tháp chưa bắt chéo, nên ta thấy liệt giao bên:
- Liệt tay, chân ở bên đối chiếu với bên tổn thương.
- Liệt các dây thần kinh sọ năo cùng bên với bên tổn
thương.
4.3.1. Tổn thương ở cuống năo:
-
Liệt nửa thân.
- Mắt lác ngoài, mí mắt xa xuống, đồng tử giăn to do
dây III và dây IV bị tổn thương.
4.3.2. Tổn thương ở cầu năo.
-
Liệt nửa thân.
- Liệt mặt thể ngoại biên.
-
Lác trong do liệt dây VI.
4.3.3. Tổn thương ở hành tuỷ:
Liệt nửa thân và liệt thêm các dây thần kinh IX, X, XI, XII.
Biểu
hiện: liệt nửa màn hầu và một dây
thanh, do tổn thương thần kinh IX, X, liệt cơ ức đ̣n chũm và cơ thang do
tổn thương dây thần kinh XI liệt nửa lưỡi do tổn thương dây XII.
4.3.4. Tổn thương ở tuỷ trên C4.
- Liệt nửa thân cùng bên với tổn thương ( v́ bó tháp
cũng bắt chéo rồi).
- Rối loạn cảm giác sâu bên liệt.
- Rối loạn cảm giác nông bên đối diện .
Đây là hội chứng Browm Séquard ít gặp trên
lâm sàng.
III. CHẨN ĐOÁN NGUYÊN DO.
Để dễ
nhớ, có thể sắp xếp căn nguyên
bệnh theo tuổi và chỉ nêu lên các nguyên do thường có.
1. Ở người già.
1.1. Chảy máu năo do tăng huyết áp.
1.2. Nhũn năo v́ tắc động mạch:
-
Trong bệnh xơ động mạch.
- Hoặc do cục máu phát sinh tại chỗ hay từ xa đưa đến
như trong hẹp van hai lá.
2. Ở người trẻ
2.1. Các bệnh tim
- Hẹp van
hai lá.
- Viêm màng trong tim cấp loét sùi, hay viêm màng
trong tim bán cấp ác tính.
2.2. Viêm động mạch do giang mai.
Ngoài các
căn nguyên thường gặp ấy, người trẻ cũng có thể bị chảy máu năo v́ tăng huyết
áp và nhũn năo.
3. Ở trẻ con.
3.1. Viêm động mạch do virut.
3.2. Viêm màng năo hay viêm năo (do virut, vi khuẩn
thường hay lao).
3.3. biến chứng năo của bệnh viêm tai giữa hay viêm tai
xương chũm.
4. Chung cho cả ba loại.
Kết
luận: liệt nửa thân dễ
chẩn đoán. Căn nguyên do nhiều bệnh tổn thương từ bó tháp đến tuỷ sống. Cho
khám kỹ lưỡng, nhiều khi phải nhờ xét nghiệm để xác đinh thêm.
|