|
|||||||||||||||||||||||||||||
|
Ngoài nguyên nhân thông thường nhất nói trên, phù toàn thân còn có thể gặp trong: 1.2. Suy dinh dưỡng: - Chủ yếu phù chi dưới, nhưng cũng có khi phù cả mặt, thân và tay. - Cũng không có liên quan đến thời gian trong ngày hoặc với tư thế người bệnh. - Cũng mềm và ấn lõm. - Nhưng không bao giờ có protein ở nước tiểu, xác định bằng protein máu giảm, tỷ lệ serin/globulin giảm nhiều. Phát hiện được bệnh tiên phát gây suy dinh dưỡng, thông thường nhất là các bệnh gây suy dinh dưỡng, thông thường nhất là các bệnh đường ruột mạn tính, các nhiễm khuẩn mạn tính (lao) hoặc các bệnh ác tính (ung thư, nhất là ung thư ống tiêu hoá). 1.3. Phù nội tiết: được đề cập đến những năm gần đây: - Phù có thể ở chi dưới và cả ở mặt, nhưng rất kín đáo: người bệnh cảm thấy mặt hơi nặng và ấn hơi lõm: phải theo dõi cẩn thận mới biết chắc là phù. - Thường xảy ra ở phụ nữ và có liên quan đến chu kỳ kinh nguyệt.
2.1. Phù ngực: đấy là phù “áo khoác”, triệu chứng cổ điển của triệu chứng trung thất (xem bài hội chứng trung thất trong chương hô hấp). 2.2. phù hai chi dưới. Nhiều bệnh có thể gây ra phù hai chi dưới: 2.2.1. Phù do suy tim phải: - lúc đầu ít và kín đáo, chỉ có ở mắt cá chân; và chỉ xuất hiện về chiều, sau khi người bệnh đứng lâu, và mất đi lúc sáng sớm khi người bệnh ngủ dậy, về sau phù sẽ thường xuyên và rõ rệt. - Chế độ nghĩ ngơi, chế độ ăn nhạt có thể làm bớt phù. - Phù mềm, ấn lõm. - Bao giờ cũng kèm theo gan to, mềm, tức, có tính chất gan đàn xếp, tĩnh mạch cổ nổi hoặc phản hồi gan tĩnh mạch cổ (+) và khó thở ít hoặc nhiều. - Nếu suy tim phải kéo dài hoặc không hồi phục, có thể xuất hiện thêm cổ trướng thẩm thấu. - Xác định chẩn đoán bằng đo áp lực tĩnh mạch: rất cao. 2.2.2. Phù do xơ gan: - Mức độ có thể nhiều họăc ít, ấn lõm. - Aên nhạt có thể bớt phù. - Thường kèm theo cổn trướng thẩm thấu và tuần hoàn bàng hệ cửa – chủ bằng soi ổ bụng và sinh thiết gan, nếu nghi ngờ. 2.2.3. Phù do suy dinh dưỡng (đã nói ở trên). 2.2.4. Phù do bệnh tê phù ướt (bêribêri). - Chủ yếu ở bắp chân, làm bắp chân người bệnh căng, to. - Có thể ấn lõm. - Không có liên quan với thời gian, với tư thế người bệnh cũng như với chế độ ăn nhạt. - Bao giờ cũng kèm theo rối loạn cảm giác chủ quan (tê bí, kiến bò, chuột rút) và mất phản xạ gân gối. 2.2.5. Phù thai nghén: ở những sản phụ trong những tháng cuối của thời kỳ có thai. 2.3. Phù một chi. Thông thường nhất ở một chi dưới. Cần chú ý đến hai trường hợp: 2.3.1. Viêm tắc tĩnh mạch (phù tĩnh mạch). - Phù mềm, ấn không lõm, trắng nhưng rất đau: đau tự phát lâu ngày làm người bệnh không dám cử động chân, đau càng tăng lên khi sờ nắn chi, nhất là đoạn chi gần chỗ viêm tắc. - Nằm nghỉ và nhất là gác chân lên cao, sẽ làm giảm bớt phù. - Thường kèm theo sốt và mạch nhanh, nhưng không tương xứng vì sốt ít. 2.3.2. Viêm mạch bạch huyết: lúc đầu cũng giống như phù trong phù tỉnh mạch. - Mềm, ấn không lõm, trắng nhưng cũng rất đau nhưng không nổi rõ đường đi của mạch bạch huyết thành những đường đỏ, nóng và đau. - Các hạch bạch huyết tương ứng với các mạch đó sưng to và đau. Về sau các tổn thương đã ổn định, các tổ chức dưới da và da trở nên rất dày và cứng: đấy là” phù chân voi”, di chứng của viêm bạch mạch. Cần tìm nguyên nhân thông thường nhất ở nước ta là giun chỉ. 2.4. Phù do dị ứng. Thường xuất hiện đột ngột ở xung quanh mắt, mồmvà thường mất đi rất nhanh.
|
Mục lục
Chương 10: Các hội chứng toàn thân |
|
||||||||||||||||||||||||||
|
|||||||||||||||||||||||||||||