Bệnh Liên Cầu Lợn
CN.Nguyễn Hải
Nam
Khoa Dịch tễ,
Viện Pasteur Nha Trang
1. T́nh h́nh
trên thế giới
-
Streptococcus suis được phát hiện ở nhiều nơi trên thế
giới, những nơi chăn nuôi lợn.
-
Người nhiễm đầu tiên được phát hiện vào năm 1960 và số
lượng bệnh nhân nhiễm ngày càng tăng. Điều này phản ánh sự tăng
lên phạm vi gây bệnh của liên cầu lợn hoặc tăng sự chẩn đoán
đúng của các bác sĩ.
-
Các trường hợp người mắc bệnh đă được thông báo ở các
nước trên thế giới (17 nước): Hà Lan, Đan Mạch, Đức, Bỉ,
Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Úc, Hungari, Hồng Kông,
Croatia, Nhật, Singapore, Đài Loan, New Zealand, Argentina,
Trung Quốc.
-
Trên thế giới đă phát hiện khoảng 490 ca bệnh liên cầu
lợn ở người, trong đó tỷ lệ tử vong là 17,5%.
-
Dịch bệnh liên cầu lợn đă xảy ra ở Trung Quốc từ
22/7/2005, đến ngày 5/8/2005 Bộ y tế Trung Quốc cho biết không
có thêm ca bệnh mới nào đựơc báo cáo.
Trong vụ dịch này có 215 ca ở người, trong đó có 39 ca tử vong
(chiếm tỷ lệ 18,1%). Theo thống kê có 80% những người bị
bệnh là nam giới, là những người giết mổ lợn bị bệnh hoặc chế
biến và bán thịt. Hơn 40% các trường hợp tuổi từ 50-60 (những
người có sức đề kháng kém).
2. T́nh h́nh tại
Việt Nam
-
Theo ông Nguyễn Đức Hiền, Viện trưởng Viện các bệnh nhiệt
đới và truyền nhiễm quốc gia cho biết “Từ đầu năm 2007 đến
nay có 22 bệnh nhân mắc bệnh liên cầu lợn điều trị tại viện này,
2 người trong số này đă tử vong. Đây là một loại bệnh mới xác
định được ở Việt Nam từ năm 2003, trong vài năm qua chỉ có
khoảng 10 bệnh nhân vào viện chúng tôi. Kể từ đầu năm 2007 đến
nay số người mắc bệnh có dấu hiệu tăng mạnh. Ở phía Nam cũng có
khoảng 20 bệnh nhân mắc liên cầu lợn”.
-
Hiện tại Viện các bệnh nhiệt đới và truyền nhiễm trung
ương, các tỉnh có người mắc bệnh liên cầu lợn chủ yếu đến từ các
tỉnh phía Bắc (10 tỉnh): Hưng Yên, Hải Dương, Hà Tây, Bắc
Ninh, Hoà B́nh, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Ninh B́nh, Nam Định, Sơn
La.
-
Chính v́ số lượng bệnh nhân có dấu hiệu tăng mạnh, 22
bệnh nhân và 2 trong số đó đă tử vong. Ngày 18/7/2007 các phương
tiện truyền thông đă bắt đầu đưa tin về bệnh liên cầu lợn, cụ
thể trên báo điện tử Việt Nam Net có tiêu đề “Đề pḥng
bệnh nhiễm trùng huyết do nhiễm liên cầu lợn”.
Ngày 23/7/2007 2 bệnh nhân nghi nhiễm liên
cầu lợn ở Huế, ngày 24/7/2007 bệnh nhân nhiễm liên cầu lợn đầu
tiên ở Quảng Ninh đăng báo.
3. Streptococcus
suis
 |
| Streptococcus suis |
Streptococcus suis là liên cầu khuẩn gây bệnh ở lợn, gọi tắt là
liên cầu lợn, khi người bị nhiễm liên cầu lợn gây bệnh gọi là
bệnh liên cầu lợn.
Liên cầu lợn chủ yếu sống ở các loài
lợn đă thuần hoá, nhưng đôi khi cũng t́m thấy ở các loài lợn
rừng, ngựa, chó, mèo và chim.
Vị trí cư trú của liên cầu lợn là ở
đường hô hấp trên đặc biệt là ở mũi, ở đường tiêu hoá và sinh
dục của lợn. Hiện có 2 tưp liên cầu lợn, tưp 1 hay gây dịch bệnh
lẻ tẻ ở các đàn lợn dưới 8 tuần tuổi, tưp 2 gây bệnh ở nhiều lứa
tuổi khác nhau. Cả 2 tưp này đều cư trú ở amidal. Lợn trưởng
thành có nguy cơ nhiễm cao nhất.
Các điều kiện để liên cầu khuẩn phát
triển ở lợn: điều kiện chuồng trại kém, nhiễm phân, rác ở chuồng
trại, không có thông khí, lợn được chăn nuôi tập trung, điều
kiện chăm sóc kém.
Khả năng gây dịch: Bệnh này sẽ khó lây
lan mạnh như các bệnh do vi rút v́ tác nhân gây bệnh là vi
khuẩn. Vi khuẩn dễ bị tiêu diệt bởi các chất sát khuẩn và tẩy
rửa nên sẽ dễ dập dịch hơn và bệnh có thể điều trị hiệu quả bằng
kháng sinh.
 |
| Bệnh nhân của Liên cầu khuẩn lợn |
Khả năng gây bệnh: liên cầu
khuẩn luôn có mặt trong môi trường nhưng không gây bệnh, hoặc
chỉ gây các bệnh viêm nhiễm không thành dịch như viêm họng,
nhiễm trùng mủ, nhiễm trùng phổi. Nếu đi vào máu, vi khuẩn này
có thể gây nhiễm trùng huyết nặng và tử vong. Tỷ lệ mang S.suis
không triệu chứng trong một đàn lợn khoảng 60%-100%. Có nghĩa là
cứ 100 con lợn mang S.suis th́ chỉ có 40 con biểu hiện bệnh.
Những người bị suy giảm miễn dịch và lợn bị suy giảm miễn dịch
có nguy cơ mắc bệnh cao.
Thời kỳ ủ bệnh kéo dài từ vài giờ đến 3
ngày.
Lư giải dịch hiện nay: Theo TS. Nguyễn
Tiến Dũng - trưởng bộ môn siêu vi trùng, Viện Thú y – cho biết
lợn bị PRRS (Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản, dân gian
gọi là bệnh tai xanh) không khác ǵ người bị nhiễm HIV,
virus PRRS “đánh” thẳng vào tế bào “đại thực bào”, khiến con vật
không thể chống lại các loại bệnh. Kết hợp với thông tin từ Cục
Thú y, theo TS. Tô Long Thành – Phó Giám đốc Trung tâm Chẩn đoán
thú y Trung ương cho biết: “rơ ràng có sự liên quan giữa dịch
‘tai xanh’ và bệnh liên cầu lợn, hầu hết các địa phương có lợn
bị nhiễm bệnh tai xanh đều có bệnh nhân nhiễm bệnh”. Điều
này có thể nghĩ rằng “60% số lợn đă bị nhiễm liên cầu khuẩn
nhưng không biểu hiện bệnh, đến khi bị bệnh tai xanh th́ liên
cầu khuẩn có cơ hội phát triển và gây bệnh liên cầu lợn”
Phát hiện liên cầu lợn: Lợn và người bị
nhiễm liên cầu khuẩn thường chỉ được phát hiện bằng các phương
pháp xét nghiệm khá phức tạp.
4. Đường lây
-
Vi khuẩn có thể tồn tại lâu trong phân, nước, rác. Như
vậy môi trường đóng vai tṛ quan trọng trong quá tŕnh truyền
bệnh của vi khuẩn.
-
Bệnh lây truyền qua đường hô hấp do lợn khoẻ hít thở
không khí có mầm bệnh, do tiếp xúc giữa lợn ốm và lợn khoẻ, do
lợn ăn phải thức ăn và nước uống có mầm bệnh.
-
Điều cần đặc biệt quan tâm là bệnh liên cầu khuẩn có thể
lây truyền từ lợn ốm sang người và ngược lại. Hiện nay chưa có
bằng chứng nào về việc bệnh liên cầu khuẩn có thể lây trực tiếp
từ người sang người.
-
Vi khuẩn xâm nhập cơ thể người nếu có sự tiếp xúc với
lợn, thịt lợn nhiễm bệnh chưa nấu chín kỹ. Khuẩn liên cầu đi vào
người qua các vết thương hở trên da hoặc niêm mạc mũi, miệng.
-
Một con đường lây lan khác cũng rất hay gặp là thông qua
ruồi, ruồi có thể bay từ trang trại nọ sang trang trại kia và
mang theo các tác nhân gây bệnh khác nhau bao gồm cả S.suis.
5. Triệu chứng
-
Trên lợn có thể có các biểu hiện sau: da lợn có thể có
các màng đỏ, sần, các hạch lympho bị sưng, sung huyết, bao khớp
dày lên, khớp bị sưng và có dịch, màng năo và năo có thể bị tổn
thương dạng phù nề, dịch năo tuỷ đục, phổi bị tổn thương với
nhiều dạng khác nhau như đông đặc, có mủ, viêm phế quản, viêm
phổi. Như vậy người dân có thể nhận biết lợn bị bệnh liên cầu
qua triệu chứng: da đỏ, khi mổ lợn nội tạng cũng rất đỏ.
-
Người mắc liên cầu lợn nếu nhẹ là viêm màng năo đơn
thuần, c̣n nặng th́ nhiễm khuẩn huyết cấp tính, suy đa phủ tạng,
suy hô hấp…
-
Các triệu chứng thường gặp là: sốt cao, đau nhức bắp
thịt, đau họng, xuất huyết toàn thân, trụy mạch, suy nội tạng,
có thể rối loạn đông máu nặng và hôn mê.
-
Hội chứng sốc nhiễm độc có thể xảy ra đối với bệnh nhân
nhiễm liên cầu lợn, gây tổn thương nghiêm trọng các cơ quan nội
tạng trong cơ thể như gan, thận, hệ tuần hoàn, ảnh hưởng rất xấu
tới việc cứu sống bệnh nhân. Hội chứng sốc nhiễm độc chỉ có thể
điều trị được với kháng sinh và trong điều kiện chăm sóc đặc
biệt.
6. Pḥng trách
lây nhiễm liên cầu lợn
-
Chủ trại chăn nuôi:
·
Vệ sinh chuồng trại sạch sẽ,
thoáng khí sẽ làm giảm nguy cơ lây nhiễm từ môi trường, tăng sức
đề kháng cho lợn.
·
Khi có dịch liên cầu khuẩn xảy
ra th́ phải xử lư đúng như xử lư một ổ dịch truyền nhiễm: Cách
ly lợn ốm để điều trị, lợn ốm chết phải chôn, đổ thuốc sát trùng
hoặc tiêu huỷ, chuồng trại và môi trường chăn nuôi phải phun
thuôc sát trùng, để trống chuồng 2 tuần mới nuôi lợn trở lại.
-
Người tiêu dùng:
·
Nên tránh mua thịt lợn có màu
đỏ khác thường, xuất huyết hoặc phù nề v́ đó chắc chắn là lợn
bệnh.
·
Nấu chín thịt lợn là điều rất
quan trọng, Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo thịt lợn phải được
nấu chín và đun ở nhiệt độ 700C trở lên hoặc đến khi
nước thịt trong không c̣n màu hồng.
·
Nên chọn mua thịt đă qua kiểm
định của cơ quan thú y.
·
Không ăn các món ăn tái, đặc
biệt là tiết canh lợn trong thời gian có dịch.
·
Những người có vết thương hở
phải đeo găng tay khi tiếp xúc với thịt lợn sống hoặc tái
·
Phải rửa sạch tay và các dụng
cụ chế biến sau khi tiếp xúc với thịt lợn.
·
Dùng riêng các dụng cụ chế biến
thịt sống và thịt chín.
·
Giữ các dụng cụ chế biến ở nơi
sạch sẽ và rửa tay sau khi chế biến thịt lợn
-
Người giết mổ, vận chuyển
·
Không giết mổ, vận chuyển lợn
bệnh.
·
Lợn chết không dùng để ăn hoặc
làm thức ăn cho loài khác, phải tiêu huỷ đúng cách.
·
Đeo các phương tiện bảo hộ khi
giết mổ, đảm bảo rằng tất cả các vết xây xước ở da được bịt kín.
·
Giữ nơi giết mổ được sạch sẽ và
phải cách ly với nơi chế biến.
·
Bỏ trang bị bảo hộ và rửa sạch
những nơi tiếp xúc sau khi giết mổ.
-
Các cơ quan chức năng
 |
| Tiêm ngừa cho lợn |
·
Trong t́nh h́nh dịch nghiêm
trọng, nên cấm hoàn toàn việc di chuyển và giết mổ lợn.
·
Tập trung, tăng cường bảo vệ và
pḥng bệnh cho những đối tượng có nguy cơ cao nhất như người
giết mổ, vận chuyển, buôn bán, cán bộ thú y, chủ trang trại.
·
Đối với vùng có lợn bệnh cần
theo dơi, phát hiện sớm lợn bệnh, cách ly và điều trị kịp thời
cho đến khi khỏi hẳn bệnh mới cho nhập đàn.
·
Cần nghiên cứu sản xuất vaccine
pḥng chống bệnh liên cầu lợn
·
Khi xuất nhập lợn qua biên giới
phải thực hiện nghiêm ngặt công tác kiểm dịch để không đưa mầm
bệnh từ nước ngoài vào và ngược lại.
·
Tăng cường giám sát các trường
hợp bị bệnh nghi nhiễm liên cầu lợn, đặc biệt là những đối tượng
có tiếp xúc gần với lợn bị bệnh như người chăn nuôi, giết mổ và
buôn bán lợn.
·
Các bệnh viện, pḥng khám đa
khoa và cơ sở khám chữa bệnh cần lưu ư phát hiện sớm các trường
hợp có biểu hiện lâm sàng nhiễm trùng và có tiếp xúc gần với lợn
bị bệnh, chẩn đoán và điều trị kịp thời nhằm giảm tỷ lệ tử vong
do biến chứng gây ra.
·
Tăng cường giám sát bệnh trên
lợn, có biện pháp xử lư triệt để nguồn lợn bị bệnh, tránh lây
lan sang người.
·
Tuyên truyền trên các phương
tiện thông tin truyền thông để người dân biết cách pḥng tránh
lây nhiễm liên cầu lợn.
7. Thách thức
pḥng tránh lây nhiễm liên cầu lợn
-
Việc pḥng ngừa và kiểm soát các đàn lợn bị viêm màng năo
do S.suis tưp 2 có ư nghĩa rất quan trọng. Việc ngăn ngừa sự lây
lan từ cá thể khoẻ mạnh mang S.suis sang cho đàn lợn là không
khả thi v́ các cá thể có thể mang vi khuẩn thể không triệu
chứng. Cho tới nay chưa có một phương pháp xét nghiệm nào đủ độ
nhạy và độ đặc hiệu để phát hiện các cá thể mang S.suis.
-
Việc kiểm soát và ngăn chặn lây nhiễm qua ruồi là rất khó
khăn.
-
Khả năng đột biến của các chủng không hoặc ít độc lực
thành các chủng có độc lực hoặc độc lực cao là có thể xảy ra.
Một khi đàn lợn bị nhiễm các chủng S.suis có độc lực th́ nguy cơ
bùng phát dịch là rất lớn.
-
Cho tới nay, đă có vaccine sản xuất từ vi khuẩn bị làm
chết, vi khuẩn c̣n sống giảm độc lực, vaccine điều chế từ
protein của vi khuẩn. Tuy nhiên hiệu quả của vaccine này không
ổn định và vẫn chưa được chứng minh cụ thể.
-
Hiện tại lợn bệnh và người bệnh không thể phát hiện bằng
mắt thường, tất cả ca bệnh đều phải qua các xét nghiệm phức tạp
nên dự đoán số người mắc bệnh liên cầu lợn sẽ c̣n gia tăng.
-
Bên cạnh những khó khăn trong pḥng tránh bệnh liên cầu
lợn, c̣n có một số yếu tố thuận lợi của bệnh liên cầu lợn đó là:
Bệnh này sẽ khó lây lan mạnh như các bệnh do virus v́ tác nhân
gây bệnh là vi khuẩn nên sẽ dễ dập dịch hơn và điều trị hiệu quả
bằng kháng sinh. Môi trường đóng vai tṛ quan trọng trong quá
tŕnh truyền bệnh của vi khuẩn, và vi khuẩn này dễ bị tiêu diệt
bởi các chất sát khuẩn và tẩy rửa.
8. Điều trị
-
Hiện nay việc điều trị ở bệnh nhân được áp dụng liên tục
các biện pháp hồi sức tích cực nên chi phí điều trị khá cao,
riêng tiền thuốc để điều trị cho bệnh nhân nhiễm liên cầu lợn có
thể tới 1 triệu đồng/ngày, tiền lọc máu khoảng chục triệu/ngày.
-
Khả năng cứu chữa căn bệnh này phụ thuộc nhiều vào thời
gian vào viện điều trị sớm hay muộn.
-
Các triệu chứng khi mắc bệnh rất giống với các bệnh nhiễm
trùng huyết, viêm màng năo mủ … Do vậy tại các tuyến cơ sở, bệnh
này khó được phát hiện và điều trị không đúng cách dẫn đến tử
vong. Hiện nay các bệnh nhân được chuyển đến viện thường rất
muộn, sau 8-10 ngày mắc bệnh nên việc chữa trị rất khó khăn.
|