|
Phiếm luận :
Y khoa trong Chiết tự chữ Hán
Lê Quang Thông
Chữ Hán là một linh tự ai cũng đă
biết.Trong những lúc trà dư tửu hậu chiết tự cũng là một cách
học hỏi triết lư người xưa gởi gắm trong từng chữ…
Tác giả thực sự chỉ biết dăm chữ, mục đích
phiếm luận vui về các Hán tự có liên quan đến ngành Y và các đức
tính cần thiết của người thầy thuốc với quan điểm của cụ Nguyễn
Du “mua vui cũng được một vài trống canh”…
Chữ Y theo BS Nguyễn Văn Kha có ư nghĩa qua
ba thời kỳ:
Thời kỳ thứ nhất: thế kỷ 50-28 trước
Công nguyên: chữ y
醫
gồm chữ khuông có nghĩa là túi, bên trong có chữ thỉ
矢nghĩa
là cung tên, bên phải là chữ thù
殳nghĩa
giáo mác, phía dưới h́nh mặt nạ
酉.
Có nghĩa là thời xa xưa thầy phù thủy đeo mặt nạ cầm khí giới
(tên và kích) để xua đuổi ma quỷ. Thời kỳ này người ta c̣n miệt
thị ngành Y, nghề này chỉ dành cho phù thủy, thày pháp, thi rớt
và c̣n tin nghề này bịp bợm thất đức nên có câu Nhất thế y
tam thế suy (một đời làm thuốc ba đời suy).
Ngày nay ư nghĩa này vẫn c̣n áp dụng cho
các ông Đạo rờ, Đạo vuốt… nhập đồng kiểu cô Ba, ông Hoàng Bảy
cho tàn nhang nuớc lă vẫn có người tin… và chúng ta để ư con
cháu của các thầy pháp, thầy cúng, lang băm… thất đức… đều suy
vi cả…
Thời kỳ thứ hai: từ thế kỷ 28 trước
Công nguyên đến 1949: Bắt đầu từ khi có các tác phẩm Hoàng đế
Nội kinh, Châm cứu và hệ thống lư luận âm dương ngũ hành ḥan
chỉnh, ngành Y được trọng vọng cho nên đây là nghề chuyên
nghiệp, chữ Y được hiểu là chữ khuông cái túi chứa chữ Thỉ là
kim châm cứu, chữ Thù hiểu là dao giải phẩu (như Hoa Đà mổ cho
Quan Vân Trường), mặt nạ hiểu là chữ Dậu
酉
là lọ thuốc có nghĩa thầy thuốc đa khoa (châm cứu - phẩu thuật)
kiêm dược sư cho thuốc luôn - (ngày nay tại Việt nam nhiều BS
c̣n bán thuốc trong pḥng mạch tức thực hành y dược song hành
như người xưa?) - thời này nghề Y được đề cao và nhiều nhân vật
nổi tiếng như Hoa Đà, Biển Thước, Trương Trọng Cảnh… và đây là
nghề cứu nhân độ thế nên có câu Nhất thế y tam đại công khanh
(một đời làm nghề y ba đời làm khanh tướng) cho nên ta không
lấy ǵ làm lạ có ḍng họ ba bốn đời là bác sĩ quan lại tiếng
thơm muôn thưở như các ḍng họ Tôn Thất, Hồ Đắc, Lê Khắc… tam
đại đều phú qúy vinh hiển…
Thời kỳ từ 1949 đến nay: chữ Y giản
luợc c̣n chữ khuông và chữ thỉ,ta thấy chữ thỉ không c̣n nghĩa
trong túi chứa cung tên hay kim châm cứu mà c̣n ư nghĩa như
“tang bồng hồ thỉ”, theo nghĩa bóng người thầy thuốc chứa trong
ḿnh những khát vọng cao hơn nữa, bay cao bay xa trong biển y
học mênh mông… nghĩa đen là người thầy thuốc đi đây đi đó… đi du
lịch, dự nhiều Hội nghị khắp năm châu… cho thỏa mộng hải hồ…
tung hoành ngang dọc (xem giải thích chữ Sĩ dưới đây).
Trong các ngành nghề BS có nhiều cơ hội dự
nhiều hội nghị khắp nơi hơn các ngành khác, nếu có nhiều tài
năng và tài… lộc.
Chữ Sĩ
士
gồm chữ nhất phía dưới chỉ người đứng đầu trong sĩ nông công
thương và chữ Thập gồm nét sổ ngang tuợng trưng trục ḥanh (tứ
phương tám hướng), sổ dọc là trục tung, ư nói sĩ là người học
rộng hiểu nhiều mọi chuyện trong trời đất (trên thông thiên văn,
dưới thạo địa lư), hiểu biết sự vận hành trong vũ trụ … Thiên
Địa Nhân (người nối trời và đất – sổ dọc nối hai gạch ngang).
Học giả Vương Sung đời Hán đă từng nói: “Cố trí năng chi Sĩ, bất
học bất thành, bất vấn bất tri” (Cho nên kẻ Sĩ có trí tuệ, có
năng lực, không học không thành, không hỏi không biết).
Ngày nay chữ Thập c̣n tượng trưng 10 ngón
tay khéo léo của sĩ (kinh tế tri thức) trong mọi ngành nghề nhất
là 10 ngón tay gơ vi tính lướt internet thông hiểu mọi tri thức
của nhân loại.
Cho nên có chữ Cát
吉
là điều tốt lành gồm chữ khẩu
口
và chữ Sĩ
士
có nghĩa miệng kẻ sĩ luôn nói chuyện tốt lành, lời hay ư đẹp,
tri thức sâu sắc đáng tin cậy.
Bác là người học rộng, hiểu nhiều, uyên bác
博
Bác sĩ phải có ḷng nhân ái, thương người,
chữ nhân ái
仁
gồm chữ nhị
二
và nhân人
(người) có ư nghĩa hai người mới có ḷng nhân ái, người thầy
thuốc có bệnh nhân mới có ḷng nhân, và người bệnh nhân quư mến
người thầy thuốc cũng là nhân, thương yêu nhau. Nếu chỉ có một
vế th́ sẽ là “t́nh đơn phương” hay “lương y như d́ ghẻ”?.
Chữ Ái
愛
gồm chữ Trảo
爪
phía trên tiếp đến là chữ Mịch
冖
là che đậy che chở, phía dưới là chữ tâm
心
và dưới nữa là biến thể của chữ Ṭng
從
tượng h́nh hai nguời đi với nhau (hai chữ nhân) nghĩa là móng
vuốt (trảo) hay các điều xấu phủ xuống, hay là những gian khó
trong cuộc đời (vợ chồng) th́ ta lấy cái ḷng che chở cho người
theo ta đó là yêu thương, bác ái, ái t́nh… “ngộ ái nị”…
Người thầy thuốc lấy tấm ḷng che chở người
theo ta để chữa bệnh, bệnh tật là tai ương như móng vuốt (trảo)
của thú trùng (vi trùng), của nội thương ngọai cảm… Ái đây là ái
nhân… tấm ḷng cao quư như soeur Theresa hay BS Albert Sweitzer
từ bỏ tiện nghi văn minh vào Châu Phi đem tấm ḷng bác ái cho
những bệnh nhân xa xôi hẻo lánh…
Ngành y khoa c̣n có một chữ Huệ
惠
, có nghĩa là ḷng nhân ái tấm ḷng bao la không biên giới gồm
chữ Xa 車
và chữ Tâm
心
người xưa ám chỉ đem tấm ḷng chuyên chở rộng khắp bao la đó là
Huệ, ân huệ như những Thầy thuốc không biên giới (Medecins sans
Frontières) đem tấm ḷng trải khắp cơi nhân gian, nguời thấy
thuốc đem tấm ḷng đi về những nơi xa cứu người giúp người trong
các công việc từ thiện dù có thể chết v́ dịch tả Ebola, hay Cúm
gà… Người thầy thuốc ban ân huệ nhưng… bất cầu báo mà vẫn có
lộc, v́ Khổng Tử đă nói: “Học giả lộc kỳ trung”, trong sự học
của kẻ Sĩ đă mầm mống cái lộc rồi…
Chữ Lộc
鹿
trong Hán tự là chữ tượng h́nh vẽ h́nh con Hươu, lộc có nghĩa là
lợi lộc do trong cổ xưa người ta hay ‘trục lộc”(đuổi hươu),
“hoạch lộc” (săn bắt hươu) nhất là thời kỳ Ân Thương hay đến
thời Đường Tống. Hươu là động vật hoang dă thường gặp nên có
nghĩa là lợi lộc, bỗng lộc hay Lộc Đỉnh kư của Kim Dung là
truyện miếng mồi của đỉnh chung… Thầy thuốc ngày nay có lộc cũng
từ bệnh nhân, lộc hươu đó chẳng phải là bệnh nhân đấy sao? Những
bệnh nhân ngoan ngơan như hươu nai (lộc), nguời thầy thuốc bảo
ǵ nghe nấy chỉ một xét nghiệm máu bất thường chẳng hiểu mô tê
ǵ hết đă gây biết bao sợ hăi, huống chi những bệnh hiểm nghèo
mổ xẻ… khác chi “con nai vàng ngơ ngác”?
Người thầy thuốc có nhiều bệnh nhân tín
nhiệm ắt có nhiều lộc, nhiều lộc chứ không phải là giàu (phú).
V́ nhiều thầy thuốc danh tiếng nhưng không giàu tiền, nhưng giàu
(lộc) về đức độ và tài năng.
Chữ Phú
富
gồm chữ Miên (nóc nhà) và dưới là chữ Nhất, chữ khẩu, chữ điền
田
tượng h́nh 4 lô đất ruộng (tuyệt nhất là 4 lô Phú Mỹ
Hưng hay khu biệt thự nào đấy?) tức là trong nhà: một (nhất)
(hộ) khẩu sở hữu nhiều đất ruộng (điền-bất động sản) là giàu.
Chữ Điền ngày nay ta thấy không c̣n 4 lô đất mà tuợng h́nh là
stock (kho hàng gồm 4 container-cổ phiếu), ai sở hữu nhiều cổ
phiếu là giàu như Bill Gate chẳng hạn.
Người thầy thuốc phải nhẫn nại nhẫn nhịn
chịu khó lắng nghe bệnh nhân tŕnh bày nỗi khổ đau của bệnh tật.
Chữ Nhẫn
忍
gồm chữ Tâm
心
và chữ Đao
刀,
ta có dao mổ, hay kim châm cứu… (vũ khí quyền lực) nhưng không
áp đảo nguời khác mà phải lắng nghe, ta có uy quyền người thầy
thuốc, nhưng không la mắng nộ nạt bệnh nhân mà phải dịu dàng mềm
mỏng yêu thương nỗi khổ đau của họ, giải thích bệnh tật, tâm lư
tiếp xúc tốt, người thầy thuốc như mẹ hiền đó là Nhẫn.
Khó thay chữ Nhẫn của các bậc hiền triết
phương Đông gởi gắm biết bao điều khi chế tác một linh tự như
chữ Hán…
Người thầy thuốc cần biết một chữ nữa là
Ḥa
和.
Chữ Ḥa gồm chữ Khẩu
口là
miệng ăn và biến thể chữ Mễ
禾
là lúa gạo theo xă hội nông nghịêp Trung Hoa ngày xưa. Nhân loại
có đầy đủ lúa gạo, không tranh dành miếng ăn là có ḥa b́nh, nhà
văn Lâm Ngữ Đường Trung Hoa cho rằng nguồn gốc mọi cuộc Chiến
tranh là do cái dạ dày, con người tranh quyền đoạt lợi cũng v́
Dạ dày, hay miếng ăn, miếng đỉnh chung, “lộc đỉnh kư”.
Nguời thầy thuốc phải “ḥa” với các đồng
nghiệp, không tranh dành đoạt bệnh, hạ bệ lẫn nhau để “trục lộc”
về ḿnh. Biết san sẻ và bớt lộc cho các đồng nghiệp khác bằng
cách nâng đỡ tạo mọi điều kiện cho đàn em kế thừa vươn lên không
sợ hơn ḿnh mà nên nghĩ “con hơn cha là nhà có phúc”, thế hệ đàn
em giỏi hơn ta th́ mừng.
Lê Quang Thông
(Bệnh viện Đà nẵng) |