Thuốc rẻ cho người nghèo
Nguyễn Đ́nh Nguyên
Bài đă đăng trên Tuổi trẻ 29/12/2010
Vừa mới đây xảy ra sự kiện công ty dược F Hoffmann - La Roche
AG (Roche), Thụy sĩ khiếu nại công ty dược Nanogen của Việt nam
về việc vi phạm bản quyền sản xuất thuốc điều trị viêm gan siêu
vi C, một sản phẩm mới của Nanogen có tên là Pegnano. Không đề
cập đến việc có hay không vi phạm sở hữu bản quyền dược phẩm,
một vấn đề được đặt ra từ sự kiện này là có một số ư kiến cho
rằng v́ lợi ích của người nghèo, các công ty dược địa phương có
thể sản xuất các loại thuốc phiên bản (generic drugs) theo
nguyên mẫu công thức của các thuốc gốc trong thời gian c̣n bản
quyền, nhằm phục vụ số đông bệnh nhân. Đó cũng là nội dung được
đề cập trong bài viết này.
Một vấn đề toàn cầu mà nhân loại đang phải đối mặt đó là bệnh
tật gắn liền với sự nghèo đói. Các nước thứ ba có lượng dân số
đông nhất trên thế giới mà cũng là vùng dịch tể của các bệnh
dịch nghiêm trọng như HIV/AIDS, sốt rét, lao, viêm gan siêu vi
v..v..thế nhưng lại không thể có đủ thuốc để điều trị cho người
bệnh. Hầu hết các thuốc đặc trị cho các bệnh hiểm nghèo này là
do các đại công ty dược của các nước giàu có sản xuất, nên giá
thành rất đắt đỏ, mà có thể nói là người nghèo phải chờ chết v́
không có tiền mua thuốc.
Nhu cầu bức thiết này đă được đưa vào nghị tŕnh của WTO, các
nước thế giới thứ ba yêu cầu được phép chuyển giao công nghệ sản
xuất các thuốc thiết yếu có bản quyền từ các công ty mẹ. Măi đến
2003 WTO mới chuẩn y vĩnh viễn quyền hạn này cho các nước thứ ba
sau 10 năm thử nghiệm với việc áp dụng tạm thời.
Theo luật mới này, WTO cho phép các nước thứ ba ngoài sản xuất,
c̣n được nhập các thuốc phiên bản của thuốc c̣n bản quyền nhằm
để điều trị các bệnh nghiêm trọng hoặc các đợt dịch. Tuy nhiên,
cũng theo luật định, các nước đang phát triển cần phải thông báo
cho WTO các thuốc họ cần và tên các nhà sản xuất thuốc phiên bản
để thông báo cho giới chức trách cấp quốc gia của các công ty mẹ
của thuốc có bản quyền.
Rào cản này được tháo dỡ được coi như là một cái phao cứu mạng
cho dân nghèo, thế nhưng họ lại phải đối mặt với một rào cản
khác đó là hiệp định thương mại song phương và trong khu vực, mà
trong hiệp định này có quy định về việc tôn trọng sở hữu bản
quyền. Do đó, giới chức trách cấp quốc gia của các nước thứ ba
cần phải có những đề xuất thay đổi chính sách được áp dụng cho
các trường hợp ngoại lệ.
Chẳng hạn như năm 2004, Malaysia đă ban hành một lệnh cấp quyền
sử dụng của chính phủ, cho phép các công ty địa phương nhập các
thuốc phiên bản điều trị HIV/AIDS từ hăng dược phẩm Cipla của Ân
độ để phân phối trong các bệnh viện công. Nhờ vào lệnh đó mà đă
lập tức giảm chi phí điều trị cho bệnh nhân HIV/AIDS ở đây giảm
đến 80%, số lượng bệnh nhân được nhận thuốc điều trị tăng hơn
gấp ba lần. Ngược lại, chính phủ Malaysia cũng đă chi một khoản
bù lỗ 4% tính trên giá thành của thuốc phiên bản, cho các công
ty thuốc gốc hiện đang có mặt trên thị trường nội địa.
Trong trường hợp của Zimbabwe th́ chính phủ ban bố t́nh trạng
sức khỏe khẩn cấp cho đối với vấn nạn HIV/AIDS. Đây là một
trong những quy định tiên quyết cần phải được cấp giấy phép sử
dụng thuốc phiên bản. Sau đó, ba công ty dược phẩm nội địa
Zimbabwe được phép sản xuất các ḍng thuốc phiên bản điều trị
HIV/AIDS.
Như đă đề cập ở trên, một khi một quốc gia sử dụng quyền ưu
tiên nhập hoặc sản xuất thuốc phiên bản của một công ty mẹ hiện
đang lưu hành trong quốc gia đó th́ một tỷ lệ phần trăm đền bù
nhỏ được chính phủ duyệt cho công ty thuốc gốc. Tỷ lệ này dao
động từ 0,5% như ở Indonesia đến 4% như Malaysia tùy theo quốc
gia quy định.
Tuy nhiên, luật định mới của WTO cho phép các nước đang phát
triển sử dụng ḍng thuốc phiên bản cũng gây ra nhiều quan ngại
đối với các quốc gia cũng như công ty sở hữu bản quyền thuốc
gốc, nhất là vấn đề lạm dụng chính sách ưu tiên đó, các công ty
sản xuất thuốc phiên bản t́m cách xuất khẩu sản phẩm phiên bản
ra ngoài thị trường thế giới làm phá giá thuốc gốc. Điều đó gây
ra thiệt hại kép cho các công ty mẹ bởi chính họ đă không những
“biếu không” bản quyền mà c̣n mất cả một thị trường tiêu thụ do
thuốc phiên bản quá rẻ mạt. Quan ngại thứ hai đối với các công
ty mẹ là do thuốc phiên bản đă được sản xuất đại trà và giá
thành rẻ mạt ở các nước thứ ba, nơi số lượng tiêu thụ luôn lư
tưởng, nên thị trường của họ bị thu hẹp, làm cho tính cạnh tranh
giữa các công ty mẹ trở nên khốc liệt hơn để được cấp phép, một
trong những “thủ đoạn” đó là cạnh tranh không lành mạnh bằng
cách phá giá.
Tóm lại, mỗi một con người trên trái đất có một quyền được Liên
hiệp quốc công nhận đó là quyền được chữa bệnh. Tuy nhiên, do
kinh tế phát triển không đồng bộ giữa các nước đă và đang phát
triển, người dân nước nghèo không có thể nào được chữa bệnh với
giá thuốc “cắt cổ” của các công ty dược Tây phương. Để điều
chỉnh sự bất cập này, WTO đă ban bố quyết định cho phép các nước
thứ ba được ưu tiên sử dụng bản quyền từ các công ty gốc để sản
xuất hoặc nhập các thuốc phiên bản. Thế nhưng, chính phủ sở tại
cũng như các nhà chức trách chuyên môn cần phải có một số thay
đổi trong chính sách quy định các điều khoản ưu tiên về y tế,
cũng như trong các kư kết hợp tác song phương nhằm tránh khỏi sự
ràng buộc về mặt sở hữu bản quyền này.
 |