Đă t́m ra thêm một phương thức điều trị cúm A H5N1 ở người?
Nguyễn Đ́nh Nguyên
Mấy hôm nay, giới truyền thông trên thế giới lại dấy lên một
niềm tin mới là đă có thể chiết tách được kháng thể kháng lại
vi-rút AH5N1 ở người và có hiệu quả bảo vệ chuột thí nghiệm cho
nhiễm H5N1 không bị bệnh. Một thành viên trong nhóm nghiên cứu
c̣n mạnh dạn tin tưởng rằng nếu được sử dụng đúng thời điểm và
đủ liều lượng th́ có thể đem lại lợi ích cho con người. Vậy giá
trị ứng dụng đích thực của công tŕnh này như thế nào?
Trước khi đi vào nội dung để bạn đọc có ư niệm, chúng ta hăy
cùng đi qua nguyên lư căn bản của phương thức sử dụng kháng thể
để điều trị.
Trong các phương thức pḥng chống bệnh truyền nhiễm, cách tốt
nhất và hiệu quả nhất trong công tác pḥng ngừa là làm thế nào
tạo được cho cơ thể của đối tượng cảm nhiễm (con người) phải có
khả năng tự chống lại bệnh tật. Cách tối ưu đó là tạo miễn dịch.
Tức là đối với cơ thể con người, khi tiếp xúc với một số loài vi
sinh vật nhất định, sau một hay vài lần, cơ thể có thể tự sản
xuất ra một chất đặc hiệu, gọi là kháng thể có khả năng chống
lại vi sinh vật đó. Khi bị nhiễm lại lần sau, cơ thể người đó
có khả năng không bị phát bệnh hay chỉ phát bệnh nhẹ. Dựa trên
khả năng này, mà chúng ta có vaccine. Tuy nhiên, hiệu quả của
cơ chế hoạt động theo cách thức này phụ thuộc vào nhiều yếu tố,
căn bản nhất vẫn là hai đối tượng trực tiếp: vi sinh vật gây
bệnh và cơ thể người nhiễm bệnh. Một vi sinh vật gây bệnh có cấu
trúc di truyền, hay cụ thể hơn là cấu trúc di truyền tạo kháng
nguyên (hiểu như là một đặc điểm nhận dạng riêng biệt đối với
loại vi rút đó như là một cái mă riêng) càng ổn định bao nhiêu
th́ hiệu quả của việc sử dụng vaccine càng cao bấy nhiêu; đối
với cơ thể người th́ khả năng tạo kháng thể đó là vĩnh viễn hay
chỉ nhất thời, hiệu giá (hiểu như là nồng độ) của kháng thể đó
có bền vững theo thời gian hay không, có khả năng trung hoà hay
tiêu diệt vi sinh vật đó bao nhiêu.
Do vậy trong thực tế, có một số bệnh như đậu mùa chẳng hạn,
người ta chỉ cần tiêm vaccine một lần, là miễn dịch đó có thể có
hiệu quả đến suốt đời. Nhờ vậy mà thế giới đă công bố thanh toán
được bệnh Đậu mùa trong thiên nhiên trên toàn cầu vào năm 1979.
Hiện nay chúng ta đang tiến tới thanh toán bệnh Bại liệt. Cũng
có một số bệnh khác, hiệu quả của việc tiêm pḥng kháng sinh là
có, tuy nhiên hiệu giá kháng thể nó lại giảm dần theo thời gian,
do đó cần phải tiêm nhắc lại. thí dụ như bệnh Uốn ván hoặc viêm
gan siêu vi B.
Thế nhưng, cũng sẽ có một số trường hợp là cơ thể người đó chưa
kịp tiêm vaccine, khi nghi bị nhiễm bệnh, th́ có một cách thức
“đi tắt” là tiêm ngay kháng thể vào cho cơ thể bệnh nhân đó, để
có thể tiếp cận và trung hoà (tiêu huỷ) mầm bệnh ngay khi c̣n
lưu hành trong máu của cơ thể. Điển h́nh trong các trường hợp
này là tiêm kháng thể chống lại Uốn ván khi dẫm phải đinh gai,
có khả năng bị nhiễm vi trùng uốn ván hoặc tiêm kháng thể chống
bệnh Dại khi bị chó nghi là dại cắn.
Vậy giữa vaccine và kháng thể th́ dùng cái nào lợi hơn? Rơ ràng
là vaccine ưu thế hơn v́ nó là phương pháp pḥng bệnh chủ động,
dùng yếu tố mầm bệnh hoặc kháng nguyên mầm bệnh để kích thích cơ
thể tự sản xuất ra được kháng thể, điều đó cũng chứng tỏ là hệ
miễn dịch của cá thể đó c̣n hoạt động tốt. Nhưng đối với
vaccine th́ cần có thời gian đủ để cơ thể sản sinh ra một lượng
kháng thể đáp ứng được mục đích trung hoà mầm bệnh khi bị
nhiễm. Đối với việc sử dụng kháng thể th́ có thể tạo được đáp
ứng tức thời, thế nhưng nó lại phụ thuộc rất nhiều yếu tố. Đầu
tiên phải kể đến là khả năng dung nạp với kháng thể lạ được đưa
từ ngoài vào, chính nó cũng đă là kháng nguyên, nhiều khi cơ thể
phản ứng lại tạo ra phản ứng sốc phản vệ kháng thể; rồi bao
nhiêu kháng thể đưa vào là vừa, thời gian nào, cách thức hoạt
động, chuyển hoá của kháng thể đó trong cơ thể người bệnh ra
sao…
Nhưng tựu trung lại, để sử dụng kháng nguyên (vaccine) hay kháng
thể cho người để pḥng chống lại bệnh tật có hiệu quả, cần phải
dựa trên một số tiền đề:
-
Cấu trúc di truyền kháng nguyên của mầm bệnh phải tương
đối ổn định theo thời gian.
-
Mầm bệnh đó phải có đủ điều kiện để tạo ra chuỗi phản ứng
kháng nguyên-kháng thể, có nghĩa là cho cơ thể tiếp xúc với
kháng nguyên này, th́ cơ thể phải tạo được kháng thể.
-
Đối với kháng thể, th́ kháng thể đó phải có hoạt tính
trong môi trường cơ thể sống (in vivo) và có khả năng trung hoà
được mầm bệnh hữu hiệu mà không gây hại cho cơ thể người sử
dụng.
-
Hoạt động của kháng thể chỉ hữu hiệu một khi mầm bệnh c̣n
lưu hành trong máu, trước khi xâm nhập hay định cư vào tế bào
của cơ thể người bệnh.
Chúng ta biết ǵ về vi-rút cúm A H5N1?
Cho đến hiện nay, những chủng loại vi-rút H5N1nào là đặc hiệu
gây bệnh cho người, chúng ta chưa biết được. Chỉ biết rằng có sự
vượt rào cản chủng loại, lây trực tiếp từ vật sang người tiếp
xúc, nhưng theo cơ chế nào cũng không rơ (v́ không phải nhiều
người mắc phải trong khi hàng triệu triệu con gia cầm bị bệnh
dịch và cũng không ít người tiếp xúc). Đối với những người mắc
bệnh trong mấy năm qua, th́ phân lập vi-rút H5N1 ở các bệnh nhân
này cũng không thuần nhất về mặt cấu trúc, mặc dù vẫn xếp chúng
và nhóm H5N1.
Một điều chắc chắn mà chúng ta có thể biết được là vi rút
A(H5N1) là vi-rút được xếp vào vi-rút cúm nhóm A, một loại
vi-rút gây bệnh nặng ở người và thường bắt nguồn từ động vật.
Một đặc điểm nổi bật của vi-rút cúm A là không ổn định về mặt
cấu trúc kháng nguyên bề mặt, dễ thay đổi, đột biến, tích hợp,
chuyển dạng. V́ lẽ đó mà chúng ta chưa bao giờ có thể đối trị
được với loại vi-rút cúm này cả. Năm nào cũng phải tiêm vaccine,
nhưng hàng năm trên toàn cầu vẫn có hàng triệu triệu người bị
nhiễm cúm từ nhẹ đến nặng, và hàng năm vẫn có đến một phần tư
triệu người chết v́ cúm hay hậu quả của cúm thông thường chứ
chẳng cần ǵ đến A(H5N1).
Đến thời điểm này, một điều may mắn là vi-rút A(H5N1) vẫn chỉ
mới lưu hành rộng răi trong loài lông vũ, gây bệnh thành dịch ở
gia cầm, và chỉ tản mác lây trực tiêp sang người và dừng ở đó.
Chưa có một bằng chứng nào cho thấy A(H5N1) có thể lây lan trực
tiếp giữa người với người, và nếu có th́ một trong những điều
kiện đủ là vi-rút này phải có một sự đột biết mới, vượt rào cản
chủng loại theo cách thức chuyển dạng kháng nguyên (shift
antigen) th́ mới có khả năng lây lan giữa người với người, hay
nói cách khác đi là vi-rút A(H5N1) đó có khả năng không phải là
A(H5N1) mà chúng ta đă và đang phân lập được hiện nay ở người
bệnh.
Bối cảnh ra đời của nghiên cứu
Nghiên cứu này dựa trên nền tảng nguyên lư kháng nguyên-kháng
thể nêu trên và quan trọng hơn là dựa trên một quan sát thực
nghiệm ở kỳ đại dịch cúm Tây-ban-nha 1918. Sau một thời gian
ngắn diễn ra, hàng triệu triệu bệnh nhân bị chết nhanh chóng,
giới bác sĩ bằng mọi nỗ lực để cứu chữa những người c̣n lại; một
trong các nỗ lực đó là sử dụng máu và huyết thanh của những
người vừa bị cúm và b́nh phục để truyền cho bệnh nhân mới. Và
theo một
nghiên cứu tổng hợp, hồi cứu lại các y văn của những năm 20s
thế kỷ trước, các khoa học gia nhận thấy tỷ lệ tử vong ở những
bệnh nhân được truyền máu thấp hơn so với những bệnh nhân không
truyền. Mặc dù nghiên cứu y học vào những thời sơ khai đó có
nhiều hạn chế về giá trị khoa học, nhưng cũng loé lên một dấu
hiệu là biết đâu, có thể sử dụng phương pháp trung hoà này, áp
dụng được trên bệnh cúm A(H5N1).
Nghiên cứu này làm ǵ, kết quả ra sao?
Nghiên cứu mới này vừa mới được đăng tải trên một tập san y khoa
trực tuyến, Public Library of Science (PloS) (Medicine) có tiêu
đề:
“Hiệu quả điều trị và pḥng ngừa của Kháng thể Đơn ḍng ở người
đối với vi-rút cúm H5N1” của một nhóm tác giả kết hợp giữa
Trung tâm nghiên cứu Y học Lâm sàng của Viện đại học Oxford-Bệnh
viện Y học Nhiệt đới thành phố HCM, Viện nghiên cứu Y sinh
Bellizona, Thuỵ sĩ và Pḥng thí nghiệm bệnh Truyền nhiễm của
Viện quốc gia về bệnh Truyền nhiễm và Dị ứng, Bethesda,
Maryland, Mỹ.
Cách tiến hành: các tác giả sử dụng 4 mẫu máu của 4 bệnh nhân đă
được chẩn đoán bị nhiễm H5N1 (tại bệnh viện Y học Nhiệt đới TP
HCM), sau đó dùng các biện pháp kỹ thuật để tách lấy kháng thể.
Các kháng thể này được sàng lọc hiệu quả bằng cách cho tiếp xúc
với mẫu các vi-rút H5N1 (được lưu trữ từ các chủng phân lập được
ở Hồng kông và Việt nam từ 1997-2005). Một trong số các kháng
thể đó đă có thể trung hoà được với ḍng H5N1 chính là loại mà
các bệnh nhân cho máu đó đă bị nhiễm.
Trong ống nghiệm, loại kháng thể này có thể trung hoà được
vi-rút H5N1 tương đối gần (nên hiểu là ch́a khớp với khoá, hay
tương đối đặc hiệu, nên gọi là kháng thể đơn ḍng) và lại có tác
dụng chéo đối với một ḍng H5N1 khác (cũng gây bệnh cho người).
Tiến hành nghiên cứu trên chuột thực nghiệm (mỗi lô 4-8 con
chuột, không nêu cụ thể bao nhiêu lô), các tác giả nhận thấy một
số các kháng thể có tác dụng bảo vệ chuột thông qua các hoạt
động: làm giảm khả năng tăng sinh vi-rút trong chuột, giảm hoạt
động huỷ hoại của vi-rút trong phổi, và ngăn cản sự lan toả của
vi-rút trong phổi.
Dựa vào đó, nhóm nghiên cứu lạc quan cho thấy kết quả này có thể
ứng dụng trong điều trị bệnh cho người, nhất là khi có đại dịch
và hiệu quả điều trị đạt được cần phải dùng trước 72 giờ (sau
nhiễm bệnh); hơn nữa kỹ thuật chế tạo kháng thể của nhóm nghiên
cứu này là dễ dàng và nhanh.
Nhận xét
Như mọi nghiên cứu khoa học, việc xếp loại giá trị nghiên cứu
trong bậc thang giá trị th́ nghiên cứu này chỉ mới ở bậc thấp
của nghiên cứu dịch tễ lâm sàng, có nghĩa là chỉ c̣n mới trong
pḥng thí nghiệm. Hay cụ thể hơn, nghiên cứu này là một tiền đề,
một cuộc thực tập dọn đường để có hướng nghiên cứu trên ngựi,
mà trước hết là nghiên cứu trên tế bào, mô người biệt lập. Về ư
tưởng, th́ đây không phải là một nghiên cứu gốc (original study)
mà chỉ là một kế thừa nguyên lư, lần đầu tiên t́m được trên loại
vi-rút mới: H5N1.
C̣n hiệu quả để có thể chế tạo và sử dụng có hiệu quả trên người
đưọc hay không? Chắc chắn là chưa thể biết, và để có câu trả lời
là cần phải có một thời gian rất dài nữa.
Lư do thứ nhất, hiện nay bệnh cúm gia cầm A(H5N1) ở người vẫn là
lẻ tẻ, và rải rác, mặc dầu tỷ lệ tử vong cao. Lư do thứ hai quan
trọng hơn là như đă đề cập ở phần nguyên lư, vi-rút cúm A là
không đặc hiệu và không ổn định về cấu trúc kháng nguyên. Rồi
để đến bước vi-rút H5N1 có thể lây lan giữa người và người th́
cấu trúc nó có như hiện nay không? Hẳn là không, nhưng như thế
nào chúng ta cũng chưa biết. Một lư do khác không thiếu phần
quan trọng nữa là hiệu quả điều trị của việc sử dụng kháng thể
từ trước đến nay thường chỉ đạt được trong giai đoạn c̣n ủ bệnh,
và mầm bệnh c̣n lưu hành trong máu, chưa đến giai đoạn xâm nhập
vào tế bào và tăng sinh. Cũng như các tác giả nhận định là cần
phải dùng sớm trước 72 giờ sau khi nhiễm. Đối với cúm th́ việc
phát hiện được thời gian nhiễm bệnh có lẽ là chuyện không tưởng,
và nếu có th́ bệnh nhân có đến được với bác sĩ th́ cũng đă muộn
hơn. Hoạ may chỉ có thể nghi ngờ sớm khi đă có…dịch. Đối với
các bệnh khác như chó dại cắn hoặc dậm phải đinh gai, chúng ta
mới có thể dễ dàng xác định được thời gian phơi nhiễm rơ ràng và
chính xác mà thôi.
Đó mới chỉ là các điểm về mặt nguyên lư, c̣n về mặt kỹ thuật và
quan trọng nhất là đáp ứng của cơ thể bệnh nhân đối với việc sử
dụng kháng thể điều trị như thế nào, mới là mấu chốt.
Để có được có câu trả lời đó, đường đi từ nghiên cứu tiền trạm
này đến đích c̣n khá xa, và chúng ta chỉ nên đón nhận thông tin
này ở mức độ vừa phải, và chờ xem các nhà khoa học đi các bước
tiếp theo như thế nào, chứ chưa phải là chúng ta đă t́m ra được
một phương tiện cứu giúp. Và chắc chắn một điều để đánh giá được
hiệu quả thực thụ của việc sử dụng kháng thể để điều trị cho
người bệnh bị nhiễm H5N1 chỉ có thể thực hiện được khi bệnh cúm
loại A(H5N1) đă trở nên tương đối phổ biến ở người, và biết đâu,
biết đâu lúc đó nó lại biến đổi trở nên là một loại cúm A như
bao loại cúm A khác đang lưu hành hiện nay. Cũng nên hy vọng
theo chiều hướng đó.
31/05/2007
|