|
Một năm nh́n lại
Nguyễn Văn Tuấn
Thấm thoát mà đă 12 tháng trôi qua, và chúng ta đang bước vào
năm thứ 8 của thế kỉ 21. Theo thông lệ, những ngày cuối năm
cũng là dịp để chúng ta “tính sổ” hoạt động trong một năm qua,
với hi vọng học được những bài học cho năm sắp đến. Với tôi,
trong thời gian 12 tháng qua là những ngày tháng tôi tham gia
thảo luận một số đề tài -- nói theo người phương Tây là – "gần
trái tim" tôi: đó là những vấn đề liên quan đến y tế, khoa học,
giáo dục và đôi khi văn học nữa. Phần lớn những bài viết, có
khi mang tính tranh luận, đều có mặt trên diễn đàn ykhoanet.com
trước khi đăng ở các tạp chí và báo đại chúng như Tuổi Trẻ,
Tia Sáng, Thời báo Kinh tế Sài G̣n, Hoạt động Khoa học, v.v…
Qua theo dơi tin tức trong nước, tôi thấy một số điều ḿnh phát
biểu hay đề nghị cũng được các quan chức trong nước hoặc gián
tiếp, hoặc trực tiếp chú ư. Đó là một vinh hạnh cho người
viết. Nhân dịp này, tôi muốn nh́n lại những đề tài nổi cộm
trong năm …
Trước hết là vấn đề cổ phần hóa bệnh viện công. Vấn đề này làm
tốn hao biết bao giấy mực báo chí, v́ trong quá tŕnh tranh luận
lộ rơ hai quan điểm rơ rệt. Một số người chủ trương cần phải cổ
phần hóa bệnh viện, và một số người khác (tương đối ít hơn) có
quan điểm ngược lại. Những người chủ trương cổ phần hóa lí giải
rằng bệnh viện công nước ta bây giờ lâm vào t́nh trạng quá tải,
và cần phải cổ phần hóa để giải quyết vấn đề. Một số người
khác, kể cả các nhà quản lí bệnh viện, th́ cho rằng cổ phần hóa
để cải tiến chất lượng chăm sóc bệnh nhân. Những người chủ
trương không cổ phần hóa bệnh viện lí giải rằng dịch vụ y tế là
một trong những dịch vụ cơ bản nhất mà chính phủ có nhiệm vụ
phải cung cấp cho người dân
Cũng như nhiều vấn đề khác, tôi thấy một điều rất đáng quan tâm
là hầu như những người tranh luận không đưa ra một bằng chứng về
mối tương quan giữa cổ phần hóa và chất lượng chăm sóc và điều
trị bệnh nhân, chẳng tŕnh bày một dữ liệu khoa học nào để có
thể nói là đáng tin cậy.
Vấn đề đầu tư cho y tế
Trong quá tŕnh tranh luận tôi không thấy ai nói đến vấn đề đầu
tư của Nhà nước cho y tế. Thế là tôi làm một cuộc khảo sát, và
phát hiện nhiều điều thú vị (một cuộc khảo sát nào cũng có kết
quả thú vị!) Qua phân tích số liệu của Bộ Y tế và Tổng cục
Thống kê, tôi phát hiện rằng hiện nay chi tiêu của Nhà nước dành
cho ngành y tế chỉ chiếm 6,1% tổng chi tiêu của Nhà nước. Tỉ lệ
này là thấp nhất so với các nước láng giềng như Campuchia (16%),
Lào (khoảng 7%), Malaysia (6,5%), Trung Quốc (10%) và Nhật
(16,4%). Một phân tích khác cho thấy trong tổng chi tiêu cho y
tế của cả nước, Nhà nước chỉ đóng góp khoảng 28%, phần c̣n lại
(72%) là từ dân hay tư nhân.
Hơn thế nữa, số liệu của Bộ Y tế cho thấy tổng số giường bệnh
trong năm 1997 là khoảng 198.000, nhưng đến năm 2005, con số này
giảm xuống c̣n 197.000! Trong cùng thời gian cả nước, tổng số
cơ sở y tế giảm từ 13.269 vào năm 1997 xuống c̣n 13.243 vào năm
2005. V́ gia tăng dân số, cho nên số giường bệnh tính trên
10.000 dân số giảm từ 26,6 năm 1997 xuống c̣n 23,7 năm 2005. Do
đó, không ngạc nhiên khi thấy tất cả bệnh viện đều quá tải.
Nhiều bệnh viện, hai thậm chí ba bệnh nhân phải nằm cùng một
giường!
|
Một số chỉ tiêu cơ sở y tế giữa 1997 và 2005 cho toàn
quốc
|
|
Chỉ
tiêu |
1997 |
2005 |
Phần trăm thay đổi 1997-2005 |
|
Số bác
sĩ |
32.900 |
51.500 |
+56% |
|
Số y sĩ
|
47.900 |
49.700 |
+3.8% |
|
Số y tá
+ hộ sinh |
59.000 |
69.700 |
+18% |
|
Số cơ
sở y tế |
13.269 |
13.243 |
-0,20% |
|
Số
giường bệnh |
197.900 |
197.200 |
-0,35% |
|
Dân số
cả nước |
74.307 |
83.106 |
+12% |
|
Số giường bệnh trên 1000 dân số |
26,6 |
23,7 |
-11% |
|
Chú thích:
Số liệu cơ sở y tế và
giường bệnh chỉ giới hạn trong số nhà nước quản lí, chưa
tính đến cơ sở tư nhân. Nguồn: Tổng cục thống kê:
www.gso.gov.vn. Ở Thái Lan, theo
số liệu năm 2002, cả nước có
134.453
giường bệnh, và số giường bệnh trên 100 dân số là 22.
Vẫn theo số liệu trên, cả nước Thái Lan có 18.987 bác sĩ
(chỉ bằng 43% số bác sĩ Việt Nam trong cùng năm). Ở
Thái Lan cứ 3295 dân số có 1 bác sĩ, c̣n ở nước ta con
số này là 1791. |
Thành ra, viết trên
Tuổi Trẻ, tôi cho rằng vấn đề là Nhà nước chưa đầu tư
thích đáng vào ngành y tế, chứ không phải cổ phần hóa. Vấn đề
là bệnh viện cần tự trị (hay tự chủ), chất lượng và y đức thay
v́ cổ phần hóa bệnh viện công.
Chất lượng y tế là ǵ?
Tôi tiếp cận vấn đề qua hai thiếu sót trên. Trước hết, cần phải
định nghĩa thế nào là “chất lượng”. Trong một bài báo trên
Thời báo Kinh tế Sài G̣n (Vietnamnet đăng lại), tôi lí
giải rằng trong y tế, cụm từ “chất lượng” đề cập đến các khía
cạnh chăm sóc sức khỏe liên quan đến: thực phẩm cho bệnh nhân;
môi trường bệnh viện (bàn ghế, tủ, giường, độ sạch sẽ, ánh
sáng); dịch vụ chuyên môn (y khoa, điều dưỡng, thiết bị); tiện
nghi pḥng (riêng tư, giờ thăm bệnh, tiện nghi); phục vụ cá nhân
(riêng biệt, thông tin, chú ư đến nhu cầu cá nhân); và sự đáp
ứng của hệ thống cấp cứu khi có sự cố. Các khía cạnh này có thể
phát triển thành những “chỉ tiêu” cụ thể để đo lường chất lượng
bệnh viện. Ngoài những chỉ tiêu định tính, c̣n có một chỉ tiêu
quan trọng nhất: đó là đó là tỉ lệ tử vong
trong khi nằm bệnh viện hay sau khi xuất viện 30 ngày
Ở nước ngoài người ta đă có nhiều nghiên cứu về chất lượng bệnh
viện (xem bảng dưới đây về một nghiên cứu ở Thái Lan, rất gần
ta) cho thấy chất lượng bệnh viện không phải tùy thuộc vào cổ
phần hóa mà là các yếu tố liên quan đến tiện nghi và thái độ của
y bác sĩ. Bệnh viện tư v́ lợi nhuận có chất lượng thấp hơn bệnh
viện công và bệnh viện tư không v́ lợi nhuận.
|
Số
phần trăm bệnh nhân trả lời "tốt" và "rất tốt" cho các
chỉ tiêu chất lượng y tế
|
|
Chỉ
tiêu chất lượng y tế |
Bệnh viện công |
Bệnh viện tư kinh doanh lấy lời |
Bệnh viện tư không lấy lời (từ thiện) |
|
Sạch sẽ |
73 |
70 |
77 |
|
Tiện
nghi |
70 |
71 |
75 |
|
Có bàn
ghế đầy đủ |
39 |
48 |
39 |
|
Điều
dưỡng chăm sóc bệnh nhân |
76 |
71 |
83 |
|
Thái độ
của điều dưỡng |
81 |
74 |
84 |
|
Bác sĩ
khám tổng quát |
73 |
68 |
79 |
|
Khả
năng chuyên môn |
90 |
83 |
96 |
|
Bác sĩ
thường xuyên đến thăm bệnh |
88 |
79 |
90 |
|
Thái độ
của bác sĩ |
85 |
65 |
82 |
|
Thông
tin về trước và sau khi giải phẫu |
80 |
73 |
83 |
|
Thông
tin về xét nghiệm |
70 |
68 |
70 |
|
Thông
tin về thuật điều trị |
75 |
76 |
73 |
|
Thông
tin về sử dụng thuốc |
69 |
56 |
84 |
|
Chất
lượng tổng quát |
88 |
79 |
90 |
|
Nguồn:
Tangcharoensathien V, et al. Patient satisfaction
in Bangkok: the impact of hospital ownership and patient
payment status. Int J Quality Health Care 1999;
11:309-317. |
Do đó, vấn đề
không phải là cổ phần hóa, mà là chất lượng phục vụ bệnh nhân.
Đến cuối năm (tháng 12/07), trong Hội nghị của Chính phủ về xă
hội hóa y tế, chính phủ đă quyết định không chủ trương “không
cổ phần hóa các bệnh viện công”, thay vào đó là “Nhà
nước sẽ tăng đầu tư cho y tế. V́, theo tính toán với chi phí
thực tế cho mỗi học sinh và mỗi người bệnh như hiện nay, phần
lớn các hộ dân chưa thể tự trang trải được (do thu nhập c̣n
thấp).” Đó là phát biểu của Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân hôm
19/12 vừa qua. Đọc tin này tôi vui suốt ngày! Vâng, tăng đầu
tư cho y tế, ông phó thủ tương ơi! Phải tăng đầu tư ở mức sao
cho bằng với các nước trong vùng.
Tai nạn y khoa và nhu cầu điều
tra chất lượng y tế
Một tin mừng nữa là Phó thủ tướng yêu cầu phải “kiểm định
chất lượng điều trị”. Ông nói “Nếu không [kiểm định chất
lượng], có khi người bệnh sang bên kia thế giới rồi mới biết
chất lượng điều trị”. Bài báo cho biết ông Nhân yêu cầu Bộ
Y tế trong 6 tháng đầu năm 2008 phải có trách nhiệm xây dựng hệ
thống quản lư, đánh giá chất lượng khám chữa bệnh.
Nói ra không phải là kiểu “đấy tôi đă nói thế” (nghe trẻ con
quá!) nhưng sự thật là trong một bài báo trên Tuổi Trẻ
vào tháng 5 (ykhoanet.com
đăng lại), nhân mấy trường hợp “tai nạn y khoa”, tôi có đề nghị
rằng cần phải điều tra chất lượng y tế, chất lượng bệnh viện để
pḥng ngừa các tai nạn trong tương lai. Vấn đề này đă được
nghiên cứu rất chi tiết ở các nước phương Tây, và chính tôi cũng
từng tham gia vào các đề án lớn này, nên cũng có vài kinh
nghiệm.
Theo nghiên cứu ở Mĩ, Úc và Âu châu, sai lầm và “tai nạn” y khoa
xảy ra ở các bệnh viện Úc, Canada và Âu châu dao động từ 7% đến
17% trong số những bệnh nhân nằm viện. Trong số này, một phần
ba là do cẩu thả trong khi điều trị và 70% là do lỗi lầm của bác
sĩ, dược sĩ, và điều dưỡng. Đó là một con số cực ḱ lớn, nếu
chúng ta tính đến hàng trăm ngàn bệnh nhân nhập viện mỗi năm.
Vẫn theo kinh nghiệm từ nước ngoài, khoảng 13% đến 16% các sai
lầm y khoa dẫn đến tử vong, và 3% dẫn đến thương tật vĩnh viễn.
Ở Mĩ, các nhà nghiên cứu ước tính rằng mỗi năm có khoảng 120.000
người chết v́ sai lầm và tai nạn y khoa, cao gấp 3 lần số tai
nạn xe hơi. Chi phí hàng năm liên quan tới những trường hợp
thương vong này được ước tính khoảng 8,8 USD. Ở Úc, mỗi năm có
đến 14.000 người bị thiệt mạng và 50.000 người bị thương tật
vĩnh viễn do những lỗi lầm trong bệnh viện (dân số Úc khoảng 20
triệu).
Trong đoạn cuối của bài viết tôi rất tâm đắc này, tôi có viết:
“Ở nước ta, chưa có những nghiên cứu tương tự để biết qui mô của
vấn đề. Tuy nhiên, nếu chấp nhận tỉ lệ tai nạn 7% (tần số trung
b́nh ở Mĩ, Úc, Canada và Âu châu), với tổng số bệnh nhân điều
trị nội trú 7.050.000 (số liệu Bộ Y tế năm 2003), có thể ước
tính rằng mỗi năm ở nước ta có 493.500 bệnh nhân bị “tai nạn” y
khoa trong các bệnh viện. Và, vẫn theo kinh nghiệm ở Mĩ (khoảng
14% “tai nạn” y khoa dẫn đến tử vong) có thể ước tính rằng nước
ta có khoảng 67.000 bệnh nhân bị chết “oan” hàng năm. Đó là một
con số tử vong rất lớn, cao gấp 3 lần số tử vong v́ tai nạn giao
thông, và chiếm khoảng 13% tổng số tử vong của cả nước (khoảng
515.000 tử vong, số liệu năm 2002).”
Thật vậy, tôi cho rằng tai nạn y khoa ở nước ta rất lớn, v́ t́nh
trạng quá tải và t́nh trạng thiếu thốn thiết bị, thuốc men.
Nhưng cần phải nghiên cứu kĩ càng để t́m cách khắc phục. Xin
nhắc lại rằng nghiên cứu không phải để chỉ ai sai ai đúng, bởi
v́ lỗi lầm trong y tế trước hết là lỗi lầm của hệ thống chứ
không phải cá nhân. Trong cuốn sách “Hai mặt sáng tối của y
học hiện đại” xuất bản năm 2004, tôi có một chương dài dành
cho vấn đề tai nạn y khoa và cũng nói chuyện về vấn đề này trong
mỗi lần về nước.
Thành ra, tôi rất vui khi biết rằng Phó thủ tướng Nguyễn Thiện
Nhân yêu cầu Bộ Y tế phải tiến hành kiểm định chất lượng y tế.
Nhưng với kinh nghiệm tôi e rằng ông Phó thủ tướng đ̣i hỏi Bộ Y
tế cao quá (ông yêu cầu Bộ Y tế phải xây dựng các tiêu chuẩn
chất lượng y tế trong ṿng 6 tháng). Tôi có kinh nghiệm trong
vấn đề này và có thề nói thế này: ở Mĩ, Úc và Canada, các chuyên
gia đă tiêu ra gần 15 năm trời để phát triển các chuẩn mực về
chất lượng y tế nhưng chỉ mới hoàn tất vài chỉ tiêu sơ khởi mà
thôi. Hi vọng rằng trong năm tới (2008) tôi sẽ giới thiệu các
chỉ tiêu này để các bạn trong nước biết thêm và cách thực hiện
ra sao.
Thật ra, tôi đă gợi ư về điều tra chất lượng y tế với hai giám
đốc của hai bệnh viện lớn ở phía Nam, và có thể triển khai nay
mai để Bộ Y tế rút kinh nghiệm và học hỏi. Đây là vấn đề hết
sức quan trọng nên cần phải làm cẩn thận và có hệ thống, có bài
bản, chứ không nên làm vội vă như ông Phó thủ tướng nóng ḷng
muốn làm.
Vắcxin viêm gan B – nhiễu thông
tin!
Ở nước ta, khoảng 13% trẻ em mới sinh (9 đến 18 tháng) và 18%
trẻ em tuổi từ 4 đến 16 bị nhiễm viêm gan B. Ngay cả ở độ tuổi
vị thành niên và trưởng thành (trên 25 tuổi), tỉ lệ viêm gan B
cũng khoảng 20%. Các tỉ lệ này khá cao so với các nước đă phát
triển, nhưng tương đương với tỉ lệ ở các nước Đông Nam Á và Nam
Mĩ. Do đó, chính sách tiêm chủng vắcxin pḥng chống viêm gan B
là cần thiết.
Nhưng với 4 trường hợp trẻ em mới sinh bị tử vong sau khi tiêm
vắcxin ngừa viêm gan B làm cho nhiều người chất vấn chính sách
này. Một bài báo trên Tuổi Trẻ cho rằng “Hàng
trăm ca tử vong sau khi tiêm văcxin viêm gan B ở Mỹ,
nhưng rất tiếc đây là một thông tin rất sai lầm, v́ phóng
viên dựa vào một nguồn tin không đáng tin cậy. Phóng viên dựa
vào thông tin trên website của ông Joseph Mercola ở bang
Illinois (Mĩ), một bác sĩ vật lí trị liệu (osteopathic doctor)
có nhiều ư kiến “phi chính thống” và nổi tiếng chống đối các
chương tŕnh tiêm chủng ngừa. Ông này đă bị các cơ quan y tế Mĩ
cảnh cáo vài lần về việc đưa tin … ẩu. Tôi có viết một bài cảnh
báo trên
ykhoanet.com và gửi cho các bạn trong Tuổi Trẻ chỉ ra
rằng nguồn tin đó rất sai. Bài báo trên website Tuổi Trẻ sau đó
đă được rút xuống ngay. Hoan hô các bạn trong Tuổi Trẻ!
Trong một bài trên
ykhoanet.com (và đăng lại trên Tuổi Trẻ) tôi phát
tŕnh bày một vài kinh nghiệm từ nước ngoài về chương tŕnh tiêm
vắcxin ngừa viêm gan B cho thấy tiêm vắcxin đem lại lợi ích
nhiều hơn là tác hại.
Qua bài học này, tôi thấy việc xử lí thông tin y khoa của các
phóng viên báo chí nói chung có vấn đề. Nhưng đây là vấn đề
chung trên thế giới, chứ cũng chẳng riêng ǵ với giáo báo chi
trong nước.
Bưởi và ung thư vú – lại nhiễu
thông tin!
Nói về nhiễu thông tin, chúng ta không thể bỏ qua bản tin về
bưởi và ung thư vú đă được một số báo trong nước rầm rộ đưa
tin. Số là vào tháng 7 năm 2007 một nhóm nhà nghiên cứu bên Mĩ
công bố một nghiên cứu quan sát (observational study) trên tập
san British Journal of Cancer, mà theo đó họ kết luận rằng ăn
bưởi có thể liên quan đến ung thư vú ở phụ nữ sau măn kinh. Bản
tin này được các báo chí Tây phương như BBC và Daily Mail truyền
đi gây chấn động giới sản xuất và phân phối bưởi.
Ở trong nước, các báo như Thanh Niên, Khuyến học,
Dân trí, Netnam, và Khoa học phổ thông năng
nổ dịch lại. Chỉ trong ṿng mấy ngày sau khi bản tin xuất hiện
trên báo chí Việt Nam, giá bưởi ở Đồng bằng sông Cửu Long giảm
từ 10.000-16.000đ/kg xuống c̣n chỉ 8.000đ/kg, thậm chí 1000đ/kg.
Nhiều nông dân điêu đứng. Tôi cũng là người xuất
thân trong quê nên biết thế nào là nỗi khổ của nông dân, không
có tiếng nói trong mấy vụ “khoa học” này.
Tôi bỏ ra ngay đêm đó để viết hai bài phân tích về những khiếm
khuyết của nghiên cứu trên và phân tích số liệu lại để chứng
minh rằng sự khác biệt giữa tỉ lệ ung thư trong nhóm ăn bưởi và
không ăn bưởi chỉ có 0,4%, tức chẳng có ư nghĩa lâm sàng ǵ cả.
Bài ngắn đăng trên
Tuổi Trẻ và được bạn đọc đón nhận nồng nhiệt, tuy nhiên
bản gốc có đầy đủ thông tin th́ (dĩ nhiên) là trên
ykhoanet.com. Bài dài hơn tôi phân tích chi tiết về những
sai lầm trong nghiên cứu đăng trên
Thời báo Kinh tế Sài G̣n. Nhân việc hai bài này, mấy
anh trong Kinh tế Sài G̣n phàn nàn gián tiếp là tại sao tôi đăng
2 báo. Xin thưa là hai bài không giống nhau. Tôi không bao giờ
đăng một bài trên hai báo, lúc nào cũng có cái khác chứ không
“ăn gian” đâu. Vả lại, đây là vấn đề quan trọng, nên cần phải
đưa thông tin đến càng nhiều người càng tốt, và hai bài đó tôi
nghĩ đă giúp ích, trấn an cho nhiều người nghiền bưởi như … tôi.
Vụ bưởi và ung thư có một kết thúc không hay. Tuy trong bài
viết tôi có nói rằng các phóng viên trong nước là nạn nhân của
bài báo trên BBC, nhưng Bộ Thông
tin và Truyền thông vẫn xử phạt hành chính các báo
Khuyến học, Dân trí, Thanh Niên, Netnam,
và Khoa học phổ thông. Đây là một bài học truyền thông
khoa học rất quan trọng, mà tôi hi vọng sẽ có dịp quay lại trong
một workshop về khoa học và truyền thông sắp tổ chức ở TPHCM
trong năm 2008. Tôi hi vọng sẽ sử dụng workshop này để giải
thích cho các phóng viên biết về qui tŕnh của một nghiên cứu y
học như thế nào, và cách diễn giải dữ liệu khoa học sao cho
chính xác.
Bệnh tả và mắm tôm
Những tháng cuối năm 2007 xảy ra nạn dịch tiêu chảy.
Ykhoanet.com vào cuộc với hàng chục tham luận và bài viết chung
quanh đề tài này. Ban đầu, các giới chức y tế gọi nạn dịch này
bằng một bệnh danh dài ḍng và khó hiểu: “Dịch
tiêu chảy cấp”. Thế rồi
vài ngày sau, bệnh được gắn thêm tính từ “nguy hiểm” thành “tiêu
chảy cấp nguy hiểm”. Nhưng cho đến nay, th́ tên bệnh thành “dịch
tiêu chảy cấp có nguyên nhân từ vi khuẩn tả”!
Khi được phóng viên hỏi, các quan chức y tế nước ta lúng túng
nói “Dùng từ tiêu chảy cấp trước hay tả trước th́ cũng vậy
thôi”! Từ đó, theo họ, cảnh báo tiêu chảy và tả th́ biện
pháp pḥng chống như nhau!
Liên quan đến bệnh danh, tôi có phát biểu trên
Thời báo Kinh tế Sài G̣n (“Sao không gọi là bệnh tả?”)
và
Tuổi Trẻ (“Gọi tên đúng bệnh để pḥng ngừa hiệu quả”).
Sau hai bài này và nhiều ư kiến của các đồng nghiệp khác trong
nước, các quan chức y tế bắt đầu sử dụng từ “bệnh tả”, tuy họ
vẫn c̣n khá quanh co và … khó hiểu.
Bệnh tả và tiêu chảy xảy ra vào ngày 30/10. Chỉ ba ngày sau,
ngày
2/11 Bộ trưởng Bộ Y tế cho biết “Nghi phạm số một hiện
nay gây ra dịch tiêu chảy cấp là mắm tôm”
và sau đó
ban hành “Quy tŕnh xử lư dịch tả”. Phán quyết
này dựa vào cơ sở rằng phần lớn bệnh nhân từng ăn mắm tôm. Ngày
8/11 tôi có nhận xét trên Tuổi Trẻ rằng “Chúng ta chưa
có dữ liệu này. Do đó, chúng ta không thể nói mắm tôm là nguyên
nhân gây bệnh. Tuy nhiên, có thể nói mắm tôm là một yếu tố nguy
cơ liên quan đến bệnh tả. Ăn thịt chó hay mắm tôm là yếu tố
nguy cơ chứ không phải là thủ phạm, bởi v́ thủ phạm là vi khuẩn
V. cholerae. V́ thế, tôi e rằng đặt trọng tâm vào một loại thực
phẩm như thế có thể làm xao lăng (hay đánh giá thấp) một tác
nhân nguy hiểm hơn và qui mô hơn: nguồn nước.”
Câu chuyện mắm tôm và dịch tả kéo dài sau đó với nhiều ư kiến
trái ngược nhau từ các chuyên gia trong Bộ Y tế. Tôi và Ts
Nguyễn Đ́nh Nguyên truy t́m trong y văn và phát hiện nhiều thông
tin quan trọng về sự tồn tại và phát triển của vi khuẩn tả. Tôi
có viết hai bài để minh oan cho mắm tôm. Bài thứ nhất “Mắm
tôm có phải là ‘thủ phạm’ gây bệnh tả? Xét lại bằng chứng khoa
học” và bài kế tiếp là “Năm
lí do cho mắm tôm vô tội” nhưng không báo nào dám đăng! Chỉ
có báo Diễn Đàn bên Pháp đăng bài thứ hai, và bài này
được lưu truyền khá rộng răi.
Khi hàng trăm mẫu mắm tôm được đem đi xét nghiệm và kết quả hoàn
toàn âm tính với vi khuẩn tả, th́ lúc đó báo chí mới vào cuộc
minh oan cho mắm tôm. Thậm chí, trong Quốc hội, giáo sư Nguyễn
Lân Dũng cũng chất vấn về mối liên hệ giữa mắm tôm và dịch tả,
nhưng rất tiếc là trả lời của Bộ trưởng Bộ Y tế không mấy rơ
ràng.
Đến ngày 21/11, Thứ trưởng Bộ Y tế Trịnh Quân Huấn kết luận: “Thịt
chó, mắm tôm không phải là nguyên nhân gây bệnh trong vụ dịch
này nữa. Mà nguyên nhân là thực phẩm tươi sống, thực phẩm nguội
và nguồn nước đang bị ô nhiễm nặng nề”. Các nhà sản
xuất mắm tôm được phép hoạt động trở lại.
Nhưng khổ thay cho mắm tôm! PGS TS Trần Đáng, Cục trưởng Cục Vệ
sinh An toàn thực phẩm, khi trả lời phỏng vấn báo
Người lao động, nói: “Mắm tôm là nguyên nhân đầu tiên
gây bệnh tả ...”
Trước tuyên bố này, Tạp chí Tia Sáng có hỏi tôi có ư kiến
ǵ không. Tôi chỉ thấy phân vân với chữ “nguyên nhân” của ông
cục trưởng, và điều này làm tôi có cảm hứng viết tiếp một bài
tản mạn cho
Tia Sáng, và như thường lệ, bản đầy đủ hơn vẫn trên
ykhoanet.com qua bài “Mắm
tôm, nguyên nhân và hệ quả”. Qua bài viết này, tôi giải
thích cụ thể thế nào là nguyên nhân và thế nào là yếu tố nguy
cơ. Làm y tế cần phải phân biệt được hai khái niệm này. Nhưng
mọi lí thuyết mang màu xám xịt / chỉ có cây đời măi măi xanh
tươi (mượn thơ Xuân Diệu) nên tôi phải nhắc nhở các quan
chức rằng thực tế c̣n quan trọng hơn. Chính v́ thế mà trong
phần cuối của bài đó tôi viết (và xin trích lại như sau):
“Các lí giải
trên tuy quan trọng, nhưng mang tính… hàn lâm. Hệ quả thực tế
c̣n đáng quan tâm hơn. Do những phán xét vội vă của Bộ Y tế về
mắm tôm trong thời gian qua, một bộ phận doanh nghiệp mắm tôm đă
bị tổn thất về kinh tế. Theo Người lao động, ngày 19/12, 13 tấn
mắm tôm lấy từ Thành phố Hồ Chí Minh đă được thiêu hủy. Điều
đáng nói là việc làm này xảy ra sau khi các quan chức của Bộ Y
tế xác nhận mắm tôm không phải là nguyên nhân gây bệnh tả. Điều
đáng chú ư hơn nữa là các mẫu mắm tôm bị tịch thu này đă được
xét nghiệm, về kết quả không thấy có mầm bệnh.
Do đó, việc
thiêu hủy số lượng lớn mắm tôm như thế chẳng những không phù hợp
với công văn của Bộ Y tế (trong đó có giải thích rơ rằng thiêu
hủy chỉ áp dụng đối với sản phẩm mắm tôm đă được xác định ô
nhiễm mầm bệnh, có liên quan đến truyền bệnh), mà c̣n thiếu nhất
quán với các kết luận mới nhất của Bộ Y tế. Ai đứng ra bồi
thường cho các doanh nghiệp bị ảnh hưởng? Và, cũng không một
lời xin lỗi từ bất cứ một giới chức y tế nào.”
Vấn đề xin lỗi các doanh nghiệp bị tổn thất v́ lệnh cấm mắm tôm
được báo chí nêu lên. Nhưng Bộ Y tế … làm thinh. Thậm chí có
quan chức nói không đặt vấn đề xin lỗi hay bồi thường. Bức xúc
trước phát biểu này, tôi có viết một bài có thể xem là cuối cùng
về sự việc, mà trong đó tôi nói về văn hóa xin lỗi trong y
khoa. Bản ngắn th́ trên
Tuổi Trẻ (“Mắm tôm và chuyện xin lỗi”), c̣n bàn đầy đủ
hơn th́ trên ykhoanet.com. Bài viết cũng được nhiều bạn đọc đón
nhận nồng nhiệt và khen ngợi.
Cựu thứ trưởng Bộ Thủy sản Nguyễn Thị Hồng Minh cũng lên
tiếng trên Tuổi Trẻ, nhưng Bộ Y tế vẫn … không xin lỗi!
Nh́n lại sự việc chung quanh bệnh tả và mắm tôm tôi rút ra một
số bài học quí báu. Đó là những bài học mà báo Vietnamnet có đề
nghị tôi làm một bài tổng kết. Loại bài viết đó tôi sử dụng các
dữ liệu công bố trên ykhoanet.com để viết dưới ba tiêu đề: “Câu
chuyện John Snow và bài học thông tin bệnh tả”, “Bệnh
tả: Thông tin càng đưa, càng rối!”, và “Bệnh
tả: Cần một thái độ khoa học”. Trong ba bài đó tôi muốn
mượn câu chuyện của ông tổ ngành dịch tễ học (John Snow) để bàn
về kinh nghiệm phát hiện nguyên nhân và pḥng chống bệnh tả
trong thời nay. Tôi cũng phê b́nh Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung
ương chẳng có thông tin ǵ liên quan đến bệnh, v́ trang nhà
trống trơn. Tuy nhiên, cho đến nay, trang nhà của Viện vẫn
chẳng có thông tin khoa học nào liên quan đến bệnh tả vừa qua!
Lâm sàng thống kê
Qua đọc một nghiên cứu của một bác sĩ ở Đại học Y Dược TPHCM,
tôi có viết bài “Về
một sự hiểu lầm thuật ngữ ‘prospective’”.
Điều làm tôi bất ngờ là bài viết thu hút rất nhiều phản hồi của
bạn bè và đồng nghiệp. Đại khái họ nói qua bài đó họ mới rơ
những thuật ngữ liên quan đến thiết kế nghiên cứu. Tôi đă có ư
định mở một mục Lâm sàng thống kê từ đó. Nhưng v́ thời
gian eo hẹp trong những tháng đầu năm nên ư định không thành
hiện thực.
Đến
khi Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật in và phát hành cuốn sách “Phân
tích số liệu và tạo biểu đồ bằng R” vào đầu năm 2007 th́ ư
định đă manh nha. Cuốn sách đă được các bạn đọc đón tiếp nồng
hậu, với hàng trăm cuốn được bán ngay trong những ngày đầu xuất
bản. Rất tiếc là hệ thống phân phối c̣n nhiều bất cập (theo
tôi) nên sách không về đến các tỉnh lẻ và vùng cao sâu. Khi
liên lạc để hỏi tại sao có t́nh trạng sách không đến các nhà
sách tỉnh lẻ, Nhà xuất bản trả lời rằng họ chỉ gửi sách đến các
tỉnh khi có nhu cầu!! Tôi phải sử dụng đến 2 dấu chấm thang ở
đây để bày tỏ sự ngạc nhiên đến tột độ về cách kinh doanh này.
Rất
nhiều bạn đọc gửi email hỏi đủ thứ vấn đề liên quan đến phân
tích số liệu. Tôi cố gắng giải thích dần dần, nhưng thấy có một
số câu hỏi trùng nhau, nên quyết định biến ư định mục Lâm
sàng thống kê thành hiện thực. Tính từ tháng 3 cho đến nay
mới có 9 tháng trời, như các bạn biết, đă có 20 bài trong đề tài
này. Tôi viết các bài này với tâm huyết giúp đỡ các đồng nghiệp
trong nước. Xin nói rằng ngay cả với các đồng nghiệp phương
Tây, tôi chưa và không bao giờ giải thích tường tận như trong
các bài đó. Mục này sẽ c̣n kéo dài và hi vọng sẽ in thành sách
để truyền bá rộng răi hơn.
Điều làm tôi đôi lúc chạnh ḷng là nhiều khi ḿnh tiêu ra khá
nhiều th́ giờ (phần lớn là ban đêm) giải thích, giúp đỡ, thậm
chí viết cả codes phân tích cho nhiều bạn ở trong nước (những
việc mà tôi không bao giờ làm cho đồng nghiệp Tây
phương), nhưng khi thư gửi đi rồi tôi không hề nhận được một thư
báo là đă nhận được, chứ chưa nói đến hai chữ “cám ơn”! (Cũng
có thể “phe ta” chưa quen với cách nói cám ơn). Thậm chí, có
người c̣n gửi email cho tôi cứ như là … ra lệnh. Với những
email như thế tôi vẫn trả lời, nhưng thầm cười méo mặt v́ nghĩ
người gửi có vấn đề trong giao tiếp nên thông cảm. Tuy chạnh
ḷng, nhưng tôi cố an ủi ḿnh làm hết ḿnh, để sau này không ân
hận với lương tâm và cũng không hỗ thẹn rằng ḿnh đă trải ḷng
với mọi người.
Đến chuyện đào tạo tiến sĩ
Một
trong những vấn đề tôi rất quan tâm là đào tạo tiến sĩ ở trong
nước. Đây là vấn đề xă hội rất bức xúc, với không biết bao
nhiêu bài báo phản ảnh t́nh trạng lạm dụng học vị này. Có phóng
viên c̣n mỉa mai viết rằng ở nước ta ra đường là đụng tiến sĩ!
Năm 2006 tôi viết khoảng 10 bài về chủ đề này, và nghĩ
chắc ḿnh không có ǵ để nói thêm nữa. Nhưng đến năm 2007, một
số sự kiện nhức nhối xảy ra nên tôi lại phát biểu. Nh́n lại
trong năm tôi viết đến 15 bài góp ư và đề nghị trong lĩnh vực
này. Hầu hết các bài đều đăng trên Tia Sáng, Hoạt động Khoa
học, và Người viễn xứ, nhưng một số nhỏ đăng trên
Tuổi Trẻ và Vietnamnet. Đôi khi nh́n lại tôi không
ngờ ḿnh có nhiều ư kiến như thế!
Năm
ngoái tôi viết một bài báo mà tôi tự cho là quan trọng: đó là
bài đề ra 7 tiêu chuẩn cho một học vị tiến sĩ. Bài này đăng
trêm tạp chí
Hoạt động khoa học số 8/2006. Bài viết được đón nhận
rất nồng nhhiệt và được in lại trên không biết bao nhiêu báo mà
tôi thể đếm hết nổi! Bảy tiêu chuẩn này là:
- Tiêu chuẩn
1: Thí sinh phải chứng tỏ ḿnh có những kiến thức cơ bản về
khoa học trong các lĩnh vực vật lí, hóa học, sinh học, di
truyền học, kinh tế học, toán học và những kiến thức chuyên
sâu về lĩnh vực nghiên cứu mà thí sinh theo đuổi.
- Tiêu chuẩn
2: Thí sinh phải am hiểu các tài liệu nghiên cứu cần thiết
về lĩnh vực chuyên môn ḿnh theo đuổi và phải có khả năng
cập nhật hóa kiến thức cũng như tất cả những phát triển mới
liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu.
- Tiêu chuẩn
3: Thí sinh phải chứng tỏ kĩ năng phát hiện vấn đề hay đặt
câu hỏi có ư nghĩa cho nghiên cứu chuyên ngành của ḿnh.
- Tiêu chuẩn
4: Thí sinh phải làm chủ được kĩ thuật thử nghiệm khoa học
hay kĩ thuật thí nghiệm cơ bản.
- Tiêu chuẩn
5: Thí sinh phải chứng tỏ đă đạt được những kĩ năng về
truyền đạt thông tin.
- Tiêu chuẩn
6: Thí sinh phải chứng tỏ ḿnh đă nắm vững kĩ năng thiết kế
một công tŕnh nghiên cứu và độc lập trong nghiên cứu.
- Tiêu chuẩn
7: Thí sinh phải chứng tỏ ḿnh am hiểu tiếng Anh, có khả
năng sử dụng hay ứng dụng các kĩ thuật trong công nghệ thông
tin.
Một trong những tiêu chuẩn tôi nhấn mạnh là phải nghiên cứu sinh
phải có ít nhất là một bài báo công bố trên các tập san khoa học
quốc tế trước khi viết luận án. Vài người không thích tiêu
chuẩn này và có vài lời dèm pha, nhưng tôi thấy họ không có cơ
sở ǵ đáng nói nên tôi không cần tranh luận.
Điều đáng mừng là sau khi bài này đăng vài tháng, các quan chức
trong Bộ Giáo dục bắt đầu có chuyển hướng. Trong bài “2007
- năm chấn chỉnh đào tạo tiến sĩ”, bà Trần Thị Hà (Vụ trưởng
Vụ ĐH và sau ĐH) cho biết: “Để được công nhận là tiến sĩ, các
NCS cũng phải có ít nhất một bài đăng trên tạp chí khoa học hoặc
kỷ yếu của hội nghị khoa học chuyên ngành nước ngoài, một bài
đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành có uy tín trong nước do
cơ sở đào tạo quy định ….”
Nhưng một quan chức trong Bộ Giáo dục và Đào tạo cho rằng công
bố bài báo khoa học là một thách thức lớn, tôi có viết bài “Công
bố bài báo khoa học: Thử lửa với nghiên cứu sinh?” Trong
đó, tôi lí giải rằng công bố bài báo khoa học không phải là một
thách thức lớn ǵ cả, nếu đầu vào, tức là tuyển nghiên cứu sinh,
ta làm cho tốt và có người hướng dẫn có tư cách khoa học. Có
điều làm tôi hơi “bực ḿnh” là ban biên tập đề cái chữ “TS”
(tiến sĩ) trước tên tôi, và h́nh nhữ vẫn chưa đủ, họ c̣n dán cái
nhăn hiệu “Việt kiều Australia” sau tên tôi. Tôi rất ghét và
không bao giờ sử dụng mấy danh xưng hay chức danh mà tôi hay nói
đùa là “sĩ sư” trước tên ḿnh khi viết báo, và càng bực ḿnh hơn
với cái chữ “Việt kiều” nghe rất khó lọt tai. Cái chữ “kiều”
nghe rất xa lạ, trong khi đó tôi là người Việt th́ làm sao xa lạ
với Việt Nam được? Nếu có nhu cầu, tại sao không viết đại khái
là “Người Việt sống ở ABC” thay v́ cái chữ khó ưa “Việt kiều”
đó?
Và chuyện đại học đẳng cấp quốc
tế
Khi
cựu Thủ tướng Phan Văn Khải sang thăm Mĩ ông có đặt vấn đề Mĩ
giúp ta thành lập một đại học đẳng cấp quốc tế. Dự án được một
giáo sư Đại học Harvard soạn thảo, và một cuộc tranh luận (hay
nói đúng ra là thảo luận) diễn ra khá sôi nổi trên báo chí. Tôi
đóng góp 3 bài b́nh luận trên Thời báo Kinh tế Sài G̣n,
Tia Sáng, và Vietnamnet. Trong ba bài đó tôi bàn
đến thế nào là một đại học đẳng cấp quốc tế, và bàn luận những
khía cạnh cần tiên lượng trước khi một trường như thế ra đời.
Đến
năm 2007, chủ đề này lại xuất hiện trên báo chí. Tôi không có ư
ǵ mới để nói, nhưng khi Tia Sáng đề nghị phỏng vấn th́ tôi cho
ư kiến. Bài phỏng vấn chỉ được đăng có một phần. Bây giờ nhân
dịp cuối năm tôi trích bài đó để bạn đọc theo dơi câu chuyện:
|
Trả lời phỏng vấn của tạp chí Tia Sáng
Tia Sáng: Anh suy nghĩ như thế nào về
thực trạng khoa học của đất nước hiện nay trên cơ sở
những ǵ mà các anh thu lượm được?
NVT: Những ǵ tôi biết được qua quan sát và làm
việc thực tế cho thấy t́nh h́nh hoạt động khoa học ở
nước ta c̣n quá kém so với các nước trong vùng. Ở bất
cứ chỉ tiêu khoa học nào (như số lượng ấn phẩm khoa học,
số chuyên gia có uy tín trên trường quốc tế, vị thế,
v.v…) th́ nước ta kém xa so với Thái Lan, Singapore, Mă
Lai và thậm chí kém hơn cả Indonesia. Chỉ tính riêng
trong ngành y sinh học, trong thời gian 5 năm
(2002-2006), số lượng ấn phẩm khoa học từ nước ta chỉ
bằng 9% so với Singapore, 22% so với Thái Lan, 36% so
với Mă Lai, v.v…
T́nh h́nh khoa học ở nước ta có vẻ “ảm đạm” như thế là
hệ quả của những bất cập và hạn chế trong khâu tổ chức
và lănh đạo, tŕnh độ nghiên cứu và thiếu thông tin của
các nhà khoa học. Thứ nhất là kinh phí cho nghiên cứu
khoa học hiện nay c̣n khá khiêm tốn, nhưng việc phân
phối kinh phí đó đến tay các nhà khoa học lại là một vấn
đề nổi cộm. Cách tổ chức cung cấp kinh phí cho nghiên
cứu hiện nay giống như một qui tŕnh đấu thầu trong kinh
doanh, và nó không thích hợp cho hoạt động nghiên cứu
khoa học. Chẳng hạn như Bộ y tế ra đề tài nghiên cứu cụ
thể, kêu gọi nhà nghiên cứu đệ đơn, rồi họ xét duyệt và
cấp kinh phí cho nghiên cứu. Trong thực tế, nhu cầu
nghiên cứu phải xuất phát từ thực tế lâm sàng, và chỉ có
bác sĩ hay nhà khoa học trực tiếp với bệnh nhân, với
quần thể cộng đồng mới biết những nhu cầu này, và chính
họ mới là người trực tiếp giải quyết vấn đề. Bộ chỉ nên
đóng vai tṛ quản lí và đề ra định hướng (chứ không phải
đề tài) nghiên cứu.
Thứ hai là vấn đề qui tŕnh xét duyệt đơn
xin tài trợ. Đă có quá nhiều nhà khoa học than phiền
rằng qui tŕnh xét duyệt thiếu tính minh bạch, thậm chí
thiếu công bằng, và hệ quả là kinh phí nghiên cứu tập
trung vào một số nhóm gồm những “cây đa cây đề”. Các
nhà khoa học trẻ hay mới từ nước ngoài về không có cơ
hội thực hiện những hoài bảo khoa học của ḿnh, và t́nh
trạng này gây ra nhiều bất măn, tiêu cực, và thui chột
tài năng của giới trẻ. Chúng ta cần xem xét hệ thống
b́nh duyệt và cung cấp kinh phí khoa học của Mĩ, Úc hay
Canada để tiến đến một hệ thống công bằng hơn và minh
bạch hơn.
Thứ ba là vấn đề thiếu thông tin và kĩ
năng. V́ thiếu thông tin, cho nên rất nhiều nghiên cứu
ở trong nước không mang tính đột phá, không có “cái
mới”, mà thường chỉ lặp lại những ǵ người khác đă làm
cả 50 năm trước. Chính v́ thế mà rất nhiều công tŕnh
nghiên cứu (tôi chỉ nói trong ngành y sinh học) không có
giá trị khoa học cao, và chẳng gây chú ư của đồng
nghiệp. Có người nói thẳng rằng nhiều nghiên cứu y sinh
học trong nước chỉ đơn thuần giả số liệu!
Quay trở lại với t́nh h́nh khoa học nước ta,
tôi thấy chúng ta thường tự hào (và có lẽ cũng có lí do
để tự hào) về ngành toán và vật lí, nhưng trong thực tế,
phải nói thẳng đây là những ngành có đóng góp khiêm tốn
cho việc phát triển kinh tế và công nghiệp hóa đất
nước. Chúng ta có quyền tự hào về những học sinh đoạt
những giải thưởng quốc tế về thi toán, vật lí, hóa học,
tin học, v.v… nhưng tính trung b́nh th́ sinh viên đại
học của ta vẫn c̣n kém về tŕnh độ học hành và kĩ năng
làm việc sau khi ra trường. Chúng ta quá chú tâm vào
một thiểu số nổi bật mà bỏ qua phần đa số lu mờ.
Tia Sáng: Trong chuyến thăm Mỹ của Chủ
tịch nước Nguyễn Minh Triết, Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân
có phát biểu: đến 2020 Việt Nam sẽ xây dựng được một
trường đại học lọt vào top 200 trường đại học thế giới
Theo ư kiến cá nhân của các anh, để đạt được mục tiêu
trên chúng ta phải làm ǵ?
NVT: Chẳng riêng ǵ nước ta, hầu như nước nào
cũng mong muốn có một đại học đẳng cấp quốc tế, nhưng ít
ai bàn cụ thể một đại học như thế đ̣i hỏi những ǵ và
phải vận hành ra sao. Có người đề nghị không nên gọi là
“đẳng cấp quốc tế” mà chỉ gọi là “chất lượng cao”.
Riêng tôi th́ thích cụm từ “đẳng cấp quốc tế” (world
class) hơn, v́ chưa bao giờ nghe hay thấy đại học nào tự
xưng là có “chất lượng cao” (high quality) cả và thấy
cụm từ này không thích hợp để mô tả uy tín một đại học.
Một trường đại học đẳng cấp quốc tế, theo tôi, phải đạt
được những tiêu chuẩn hay điều kiện sau đây:
-
phải có những giáo sư đẳng cấp quốc tế. Đây là những
giáo sư có uy tín cao, có “tên tuổi” trong chuyên
ngành, có lượng ấn phẩm khoa học lớn với chất lượng
tốt (có nhiều cách để đánh giá), có ảnh hưởng trong
chuyên ngành, v.v… Có nhiều người hiểu lầm rằng hễ
người nào đang giữ chức giáo sư bên Mĩ hay Âu châu
là “đẳng cấp quốc tế”. Không phải như thế. Chỉ có
một số (có lẽ 10-20%) các giáo sư Âu Mĩ xứng đáng
với tầm cỡ quốc tế mà thôi, phần c̣n lại th́ chỉ tầm
trung b́nh. Rất nhiều giáo sư ở Âu Mĩ chỉ là những
công tư chức khoa bảng, chứ chẳng có nghiên cứu ǵ
đáng kể; v́ thế, không nên nhầm lẫn giữa giáo sư
đẳng cấp quốc tế và giáo sư đại học tại các nước Âu
Mĩ.
-
phải là nơi nuôi dưỡng những tài năng đẳng cấp quốc
tế tương lai. Những ai từng quen thuộc với cơ chế
tuyển dụng của các trường đại học lớn ở Mĩ đều biết
rằng các giáo sư và nhà nghiên cứu cấp thấp thường
được nâng đỡ trong ṿng 3 đến 5 năm để họ tự chứng
minh khả năng của ḿnh, sau đó họ phải trải qua một
quá tŕnh b́nh duyệt từ bên ngoài, và chỉ có những
người xuất sắc với những nghiên cứu đẳng cấp quốc tế
mới được giữ lại làm việc.
-
phải có (hay tạo ra) một môi trường nghiên cứu với
những cơ sở vật chất nghiên cứu đầy đủ. Một đại học
ngày nay, cho dù là đại học không phải đẳng cấp quốc
tế, khó mà vận hành một cách hữu hiệu nếu không có
một hệ thống thư viện và internet hoàn chỉnh. Do
đó, nhu cầu cho một thư viện đẳng cấp quốc tế với
hàng triệu sách tham khảo và tạp chí khoa học là một
điều kiện hàng đầu.
-
phải có ngân sách nghiên cứu dồi dào. Một đại học
đẳng cấp quốc tế mà không có nghiên cứu khoa học th́
không xứng đáng với danh xưng đó. Đại học Mahidol
của Thái Lan được xem là có đẳng cấp, v́ trên 50%
các bài báo khoa học từ Thái Lan xuất phát từ trường
này. Nghiên cứu phải là những nghiên cứu mang tính
khám phá, bởi v́ phần lớn những tiến bộ khoa học gần
đây đều xuất phát từ những công tŕnh nghiên cứu cơ
bản, đặc biệt là công nghệ sinh học. Một công tŕnh
nghiên cứu khoa học khám phá trung b́nh có thể tốn
đến một triệu USD trong một năm. Thành ra, không
ngạc nhiên khi thấy ngân sách dành cho nghiên cứu
tại các trường đại học lớn của Mĩ có khi lên đến con
số một tỉ USD. Tại nhiều trường đại học Tây phương
ngày nay, trường đại học chỉ cung ứng cho nghiên cứu
và trả lương giáo sư trong ṿng 3 hay 5 năm, sau
thời gian này giáo sư phải tự t́m lấy nguồn tài trợ
cho nghiên cứu. Thành ra, dù rằng một phần ngân sách
nghiên cứu (có thể là 60%) do nhà nghiên cứu t́m
được từ nước ngoài, nhưng trường đại học vẫn phải
sẵn sàng cung ứng khi nguồn tài trợ từ nước ngoài
gặp khó khăn.
-
lương bổng cho giáo sư. Không thể ḱ vọng một giáo
sư đẳng cấp quốc tế với hàng trăm công tŕnh khoa
học và đang hưởng lương hàng trăm ngàn USD hàng năm
lại chịu làm việc tại một đại học đẳng cấp quốc tế
Việt Nam với số lương 50 ngàn USD. C̣n nhớ khi Hồng
Kông được Anh trao trả về Trung Quốc, rất nhiều giáo
sư ngoại quốc rời bỏ các đại học Hồng Kông v́ họ
không thể sống với lương bổng mới và cách quản lí
mới. Phải cần đến 5 năm các đại học Hồng Kông mới
mời các giáo sư này quay lại làm việc.
-
phải cần thời gian. Cần phải nhận thức rằng không
phải một sớm một chiều chúng ta sẽ xây dựng được một
đại học đẳng cấp quốc tế, một đại học mà nói đến
tên, người ta có thể đánh giá ngang cỡ với các đại
học danh tiếng khác ở Tây phương. Các đại học danh
tiếng như Harvard, Yale, Stanford, Oxford,
Cambridge, v.v… phải trải qua hàng trăm năm để đạt
được vị thế như ngày nay. Ngay cả các đại học mới
và danh tiếng “khiêm tốn” hơn như University of
Tokyo, Australian National University, National
Singapore University, v.v… cũng phải phấn đấu qua
nhiều thập niên để được xếp hạng trong danh sách các
đại học đẳng cấp quốc tế.
Những điều kiện và tiêu chuẩn trên không phải dễ đạt
được. Trước những yêu cầu này có lẽ nhiều bạn đọc sẽ
hỏi trong điều kiện c̣n nhiều khó khăn hiện nay liệu bao
giờ chúng ta mới có một đại học đẳng cấp quốc tế. Vào
cuối thế kỉ 19 ở Mĩ, cũng có người đặt câu hỏi đó. John
D. Rockefeller từng hỏi Charles W. Eliot (lúc đó là hiệu
trưởng Đại học Harvard suốt 40 năm liền) nếu muốn thành
lập một đại học đẳng cấp quốc tế cần những điều kiện
ǵ. Eliot trả lời rằng cần 50 triệu USD và 200 năm!
Nhưng Eliot đă sai lầm to. Trường Đại học Chicago được
thành lập vào đầu thế kỉ 20, với trên 50 USD (do chính
Rockefeller trao tặng) nhưng chỉ sau 20 năm hoạt động,
đă trở thành một đại học đẳng cấp quốc tế. Hiện nay,
chúng ta bàn về đại học đẳng cấp quốc tế, nhưng tôi thấy
đang có xu hướng “ch́m” sau một thời gian bàn thảo sôi
nổi. Chúng ta cần quyết tâm để biến lời nói thành hiện
thực.
Tia Sáng: Vừa rồi Bộ KHCN có bàn về vấn
đề nghiệm thu các đề tài khoa học và có nhiều ư kiến
khác nhau. Ư kiến của GS Hoàng Tụy cho rằng, đă nghiên
cứu khoa học cơ bản th́ phải có công bố quốc tế. Nhưng
cũng có nhiều ư kiến khác lại nói, trong hoàn cảnh hiện
tại ở Việt Nam chưa thể làm như thế được. Ư kiến nào các
anh cho là đúng?
NVT: Tiêu chuẩn số 1 để đánh giá thành tựu nghiên
cứu khoa học -- bất kể là khoa học cơ bản hay khoa học
ứng dụng -- là ấn phẩm khoa học và bằng sáng chế. Ấn
phẩm khoa học thường phải là những bài báo được công bố
trên các tập san chuyên ngành có hệ thống b́nh duyệt
(peer-review) và có uy tín (tức là nằm trong danh bạ của
ISI hay cơ quan tương tự) với hệ số ảnh hưởng (impact
factor).
Tôi cũng biết có ư kiến cho rằng việc công
bố nghiên cứu trên các tập san quốc tế là không thực
tế. Tuy nhiên, tôi thấy ư kiến đó không đúng và mang
tính … ngụy biện. Tôi không hiểu “hoàn cảnh” nào mà các
nhà khoa học nước ta không công bố được, nếu những công
tŕnh của họ có giá trị và được thực hiện theo những
tiêu chuẩn chung. Thật ra, các tập san quốc tế có xu
hướng tạo điều điệu thuận lợi như không lấy chi phí in
bài, dành ưu tiên đăng bài, châm chước vấn đề ngôn ngữ …
cho các nhà khoa học ở các nước đang phát triển như ở
nước ta để công bố ấn phẩm khoa học.
Tia Sáng: Đối với những ngành mà
hoạt động nghiên cứu cơ bản c̣n thấp như vật lư địa cầu,
môi trường,…rất khó có thể có công bố quốc tế. Như vậy,
có nên tiến hành nghiên cứu cơ bản không?
NVT: Tôi không xem các hoạt động khoa học theo
thang chuẩn thấp hay cao, cho nên tôi không xem khoa học
vật lí địa cầu hay khoa học môi trường là thấp. Tôi
nghĩ ở bất cứ lĩnh vực nào, nếu chúng ta chịu khó làm
việc, t́m ṭi và suy nghiệm vấn đề cho đến nơi đến chốn
th́ vẫn có thể đi đến những đề tài để công bố. Cần phải
nói thêm rằng một nghiên cứu khoa học không chỉ đánh giá
qua một phát kiến mới về ư tưởng hay kết quả mới, mà một
phương pháp hay cách làm mới vẫn có thể xem là có giá
trị khoa học. Chẳng hạn như chọn một quần thể độc đáo
làm mô h́nh để nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố di
truyền đến một bệnh vẫn có thể xem là mới, và vẫn có thể
công bố bài báo khoa học.
Tia Sáng: Anh có thể cho biết cụ
thể ranh giới giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng
dụng trên thế giới hiện nay như thế nào?
NVT: Hoạt động khoa học ngày nay mang tính liên
ngành (inter-discipline), và v́ thế, rất khó t́m một lằn
ranh để xếp loại thế nào là khoa học cơ bản và thế nào
là khoa học ứng dụng. Theo tôi, cách phân chia khoa học
cơ bản và nghiên cứu ứng dụng là không cần thiết và phản
tác dụng. Nh́n chung, có nhiều người nghĩ rằng nghiên
cứu toán học là cơ bản, c̣n y học là ứng dụng. Nhưng
trong ngành y sinh học, người ta nghĩ rằng (hay xem)
nghiên cứu di truyền học và nghiên cứu trên tế bào là cơ
bản, c̣n nghiên cứu lâm sàng là ứng dụng. Nói như thế
để thấy tất cả các nổ lực đi t́m một lằn ranh phân biệt
hoạt động khoa học c̣n tùy thuộc vào ngành nghề nghiên
cứu.
Phân biệt giữa khoa học cơ bản và ứng dụng là quan điểm
của mấy thập niên trước, và không c̣n thích hợp cho khoa
học thời nay nữa. Xin dẫn một ví dụ đơn giản: nếu tôi
nghiên cứu về cách sử dụng gen để chẩn đoán bệnh béo
ph́, th́ công tŕnh này nên xếp là cơ bản hay ứng dụng?
Tôi phải phân tích một măng DNA để biết được thể gen và
phải thử nghiệm xem nó có liên quan đến béo ph́ hay
không (đó là một hoạt động nghiên cứu cơ bản), nhưng béo
ph́ là một vấn đề lâm sàng (một lĩnh vực nghiên cứu ứng
dụng), và phải sử dụng các thuật toán thống kê để phát
triển mô h́nh chẩn đoán (một lĩnh vực vừa cơ bản vừa ứng
dụng). Nói tóm lại, công tŕnh của tôi có tất cả các
hoạt động khoa học ứng dụng và cơ bản. Không có chuyện
phân cấp đó là khoa học cơ bản hay ứng dụng.
Ví dụ mà tôi tŕnh bày cho thấy xu hướng nghiên cứu khoa
học bây giờ mang tính liên ngành, bởi v́ tôi cần đến các
chuyên gia về sinh học phân tử, di truyền học, thống kê
học, và chuyên gia lâm sàng. Sự hợp tác liên ngành đó
chính là động cơ thúc đẩy phát triển khoa học. Đi t́m
một lằn ranh để phân chia ranh giới giữa cơ bản và ứng
dụng là một h́nh thức làm cho khoa học không theo kịp
trào lưu quốc tế.
Tia Sáng: Theo đánh giá chủ quan
của anh th́ mối quan hệ giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên
cứu ứng dụng ở Việt Nam ra sao? Nhà nước nên ưu tiên chú
trọng đầu tư cho lĩnh vực trọng điểm nào cho tương lai?
NVT: Theo tôi, không nên phân biệt giữa khoa học
cơ bản và khoa học ứng dụng. Các cơ quan tài trợ cho
nghiên cứu ngày nay thường khuyến khích các nghiên cứu
mà thuật ngữ tiếng Anh gọi là “Translational research”,
tức là chuyển giao những thành tựu trong nghiên cứu khoa
học cơ bản đến người tiêu dùng. Trong nghiên cứu y học,
“người tiêu dùng” (consumer) đây chính là bệnh nhân.
Bất cứ công tŕnh hay dự án nghiên cứu y sinh học nào,
tác giả phải nêu cho được tiềm năng chuyển giao thành
tựu để nâng cao chất lượng chăm sóc cho bệnh nhân.
Theo tôi, nước ta nên tập trung vào những nghiên cứu ở
dạng này, thay v́ theo đuổi những nghiên cứu mang tính
khám phá (discovery) mà chúng ta chưa thể có điều kiện
và kinh phí để theo đuổi. Xin lấy một ví dụ đơn giản để
minh họa cho ư này. Các nhà khoa học Anh mới đây nghiên
cứu trên 2000 bệnh nhân, mỗi bệnh nhân họ phân tích
500.000 SNP, và mỗi SNP tốn khoảng 0,5 USD, tức công
tŕnh này tốn khoảng nửa tỉ USD. Với số tiền đó, họ chỉ
phát hiện một gen duy nhất có liên quan! Nước ta chưa
thể làm những nghiên cứu đó, nhưng có thể ứng dụng thành
tựu từ những nghiên cứu như thế cho t́nh h́nh thực tế ở
trong nước.
Tia Sáng: Tầm nh́n phát triển khoa học
công nghệ ở nước ta trong tương lai, theo các anh, chúng
ta có nên đi theo mô h́nh của một số nước đi trước như
Nhật, Hàn Quốc Singapore,…hay chúng ta phải vạch ra con
đường riêng?
NVT: Tôi không rơ mô h́nh của Hàn Quốc hay
Singapore ra sao, nhưng tôi nghĩ mỗi nước đều có một bối
cảnh lịch sử riêng biệt, và do đó, sẽ không có “mô h́nh”
nào hoàn toàn thích hợp cho nước ta cả. Chẳng hạn như
chúng ta chưa thể đ̣i hỏi tất cả các giáo sư đại học
trong nước phải hội đủ những tiêu chuẩn như giáo sư ở
Mĩ, bởi v́ một đ̣i hỏi như thế không thực tế. (Thật ra,
ở Mĩ tiêu chuẩn giáo sư cũng rất khác nhau giữa các
trường).
Nước Pháp tự hào rằng Pháp đă, đang và sẽ không bao giờ
trở thành một phiên bản của bất cứ nước nào trên thế
giới, nhưng các hoạt động nghiên cứu khoa học của Pháp
cũng dựa vào các chuẩn mực quốc tế. Chúng ta cần phải có
một “con đường” riêng cho chính chúng ta, nhưng con
đường đó phải phù hợp với trào lưu của thời đại, phải
tuân thủ theo những chuẩn mực quốc tế mà chúng ta là một
thành viên. Chẳng hạn như chúng ta không thể biện minh
rằng v́ “hoàn cảnh” mà không công bố ấn phẩm nghiên cứu
khoa học trên các tập san quốc tế, trong khi đó chính là
một chuẩn mực mà đại đa số các nước trên thế giới chấp
nhận.
Hiện nay, chúng ta có quá nhiều viện nghiên
cứu từ các bộ và tổng cục với chức năng nhiều khi chồng
chéo nhau và thành phẩm cũng không rơ ràng mấy. Theo
tôi, một trong những việc làm hàng đầu là chấn chỉnh (kể
cả nhập lại) các viện nghiên cứu từ đó và các đại học
thành những trung tâm nghiên cứu và đào tạo theo chuẩn
mực quốc tế (cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có một viện
nghiên cứu y khoa có uy tín). Chúng ta cũng cần phải
kiện toàn lại hệ thống b́nh duyệt và cung cấp kinh phí
nghiên cứu sao cho đảm bảo tính công bằng và hiệu quả
của đồng tiền. Chúng ta có thể học hỏi từ kinh nghiệm
của Mĩ hay Âu châu trong công tác quản lí khoa học và
ngân sách khoa học. Việc này cũng không khó, không cần
đến việc tốn tiền phải gửi hàng chục phái đoàn quan chức
ra nước ngoài để t́m hiểu; chỉ cần hỏi các nhà khoa học
gốc Việt có kinh nghiệm ở nước ngoài là họ có thể cung
cấp thông tin cụ thể cho các giới chức trong nước.
|
Ấn phẩm khoa học Việt Nam
Sự
có mặt của khoa học Việt Nam trên trường quốc tế c̣n quá khiêm
tốn. Tôi đă dành khá nhiều th́ giờ và công sức để viết và kiến
nghị cách cải tiến nghiên cứu khoa học, nhất là nghiên cứu y
học, ở Việt Nam. Bạn đọc có thể tham khảo bài viết “Nghiên
cứu y học ở Việt Nam: Đặc điểm, thiếu sót, và sai sót” đăng
trên tạp chí Thông tin Y học TPHCM hai số vào đầu năm nay để
biết thêm chi tiết. Trong bài này, tôi chỉ ra hàng loạt thiếu
sót và sai sót về nghiên cứu y học ở Việt Nam. Bài này có thể
“đụng chạm” đến nhiều đồng nghiệp, nhưng đó là những điều tôi
thấy cần phải nh́n thẳng và học hỏi.
Mới
đây, tôi và đồng nghiệp tôi (Nguyễn Đ́nh Nguyên) đă làm một phân
tích chi tiết so sánh số lượng và chất lượng nghiên cứu khoa học
Việt Nam với các nước trong vùng Đông Nam Á. Bài viết sẽ đưa
lên ykhoanet.com nay mai. Có lẽ các bạn sẽ ngạc nhiên thấy khoa
học của ta c̣n kém quá. Nhưng phải nh́n nhận cái kém của ḿnh
để vươn lên, nên trong bài này tôi nói thật và nói thẳng.
Nói
ngắn gọn, trong thời gian từ 1996 đến 2005 (10 năm), các nhà
khoa học Việt Nam công bố được khoảng 3500 bài báo khoa học trên
các tập san khoa học quốc tế. Con số này thoạt đầu th́ khá đấy,
nhưng sự thật là thấp nhất trong vùng, thấp hơn
cả Indonesia và Phi Luật Tân. Con số công tŕnh khoa học của
Việt Nam chỉ bằng 1/5 số bài báo từ Thái Lan, 1/3 so với Mă Lai,
1/14 so với Singapore (n = 45.633) ! Tôi cũng ước tính rằng nếu
tốc độ tăng trưởng chậm như hiện nay th́ phải cần đến 60 năm sau
chúng ta mới bắt kịp số lượng bài báo của Thái Lan vào năm
2005 !
Đó là mới nói về số lượng. C̣n chất
lượng cũng kém lắm. Nhưng điều đáng quan tâm nhất với tôi là chỉ
có 20% các công tŕnh nghiên cứu khoa học từ Việt Nam là do nội
lực, phần 80% c̣n lại là do hợp tác hay giúp đỡ từ nước ngoài.
Trong khoa học, chúng ta chưa đứng vững bằng đôi chân ḿnh. Hợp
tác khoa học là xu hướng tất yếu trong thời đại toàn cầu hóa
ngày nay, nhưng điều tôi quan tâm là các hợp tác khoa học từ
Việt Nam là theo kiểu "khoa học nhảy dù", tức nhà khoa học ngoại
quốc vào Việt Nam hợp tác nhưng họ dành công trạng về họ !
Nếu chúng ta không sớm chấn chỉnh hệ
thống hoạt động khoa học, kể cả hệ thống cung cấp tài trợ và xây
dựng các chuẩn mực khoa học theo tiêu chuẩn quốc tế, tôi sợ
chúng ta sẽ tụt hậu và trượt dài trên trường quốc tế.
Đầu
năm nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo có đề án đào tạo 20 ngàn tiến sĩ
và thu hút người Việt ở nước ngoài về Việt Nam. Theo đó,
“Trong 10 năm tới, cố gắng
thu hút vài trăm, thậm chí 1.000 nhà khoa học Việt kiều về làm
việc tại các cơ sở giáo dục VN.”
Tôi có viết hai bài bàn về dự án này và cũng gây ra vài tai
tiếng. Có người nói rằng tôi đánh giá thấp tiềm năng Việt
kiều! Tôi vẫn cho rằng khó mà thu hút 1000 giáo sư “Việt kiều”,
đơn giản v́ con số giáo sư người Việt ở nước ngoài không nhiều
đến như thế.
Theo sau các phát biểu
mang tính chính sách của lănh đạo Nhà nước, đă có nhiều bàn luận
về phương cách thu hút các giáo sư và nhà khoa học gốc Việt (tôi
sẽ gọi tắt là “Việt kiều”) về làm việc ở quê nhà. Có
thể nói đại đa số các nhà khoa học Việt kiều, dù có vài khác
biệt về chính kiến với nhau, ai cũng đau đáu nh́n về quê nhà, và
mong muốn “làm một cái ǵ đó” đưa góp phần đưa Việt Nam vào hàng
ngũ các nước tiên tiến, hay ít ra là giúp nâng cao vị thế của
Việt Nam trên trường quốc tế. Thế nhưng, cho đến nay, mặc dù
đă có vài Hiệp hội doanh nhân và khoa học Việt kiều được
thành lập, nhưng con số nhà khoa học Việt kiều thực sự về nước
làm việc chỉ “đếm đầu ngón tay”.
Vấn đề đặt ra là tại sao? Theo tôi (và nhiều đồng nghiệp khác
cũng có cùng ư kiến), lư do chính là Nhà nước
vẫn chỉ … nói, chứ chưa có một cơ chế hay chính sách ǵ cụ thể
để các giáo sư
và nhà khoa học Việt kiều dựa
vào đó mà đi đến một quyết định quan trọng “về hay ở”. Hiện
nay, phần lớn các giáo sư và nhà khoa học Việt kiều về nước tham
gia làm việc ngắn hạn chỉ là hoàn toàn thiện nguyện và từ … tiền
túi, chứ chẳng có ai tài trợ. Dù làm việc không lương như thế,
nhưng họ đôi khi c̣n bị những thủ tục “hành là chính” từ các cơ
quan như hàng không, hải quan, công an, và chính quyền địa
phương. Đôi khi (chỉ “đôi khi” thôi) mang theo một máy tính
sách tay, một vài đĩa CD chuyên môn, hay vài thiết bị y khoa
cũng là đồng nghĩa với việc chuốc lấy phiền phức vào thân cho
các nhà khoa học có ḷng với đất nước!
Một vài "chuyển động" gần đây (như việc “Bộ
Ngoại giao và Ban Dân vận Trung ương xây dựng
Đề
án về công tác người Việt Nam ở nước ngoài
giai đoạn 2007 – 2010 và những năm tiếp theo”)
là một tín hiệu tích cực. Nhưng với những bàn luận tương tự như
thế trong thời gian qua, giới khoa học người Việt ở nước ngoài
vẫn có lí do để chờ đợi xem một đề án như thế có thật sự thành
hiện thực hay chỉ lại là … lời nói.
Thật ra, như tôi nói ở trên, người
Việt ở nước ngoài không cần phải được “vận động” hay “tuyên
truyền” hay “ưu đăi” để tham gia góp phần vào việc phát triển
quê hương. Đă là người Việt, ai cũng muốn - không ít th́ nhiều -
đóng góp cho quê nhà. Không cần đến những động thái mang tính
áp đặt tâm lí hay ban phát ơn nghĩa. Cái mà người Việt ở nước
ngoài cần là điều kiện và môi trường làm việc, kể cả thủ tục
hành chính gọn nhẹ và minh bạch. Không có ǵ năn ḷng hơn là dù
được sự mời gọi của Nhà nước về đóng góp cho quê hương, nhưng
mới vào cảng hàng không đă phải vướng víu những thủ tục rườm rà,
những việc làm quan liêu, những thái độ vô cảm... Nhưng rất tiếc
đó lại là một kinh nghiệm thực tế mà tôi nghĩ không ít người
Việt ở nước ngoài về quê đều có lần kinh qua.
Thử tưởng tượng một
trường hợp tiêu biểu: một giáo sư Việt kiều đă thành danh, đang
lănh đạo một nhóm nghiên cứu với ngân sách hàng triệu USD, mức
lương 120.000 USD /năm, có cuộc sống gia đ́nh ổn định ở Mĩ. Dù
yêu quê hương cỡ nào đi nữa, vị giáo sư đó rất khó mà rời trường
đại học để về Việt Nam làm việc trong một điều kiện c̣n nhiều
khó khăn và khó đoán trước được với một mức lương 10.000 hay
20.000 USD/năm. Đó là chưa kể đến chuyện nơi ở có ổn định hay
không (giá cả nhà đất ở TPHCM ngày nay thậm chí c̣n đắt hơn cả
giá nhà ở nước ngoài). Thật ra, nếu lănh đạo trường nghe tin vị
giáo sư này sắp rời trường, họ sẽ t́m cách nâng lương hay nâng
vị thế để giữ vị giáo sư này lại ở trường (trong thực tế chuyện
này rất phổ biến ở các đại học Tây phương v́ họ không muốn mất
những giáo sư có tài). Có lẽ chính v́ lí do này mà Hàn Quốc và
Trung Quốc can đảm có hẳn một thang bậc lương riêng cho giới
khoa học Hàn Kiều và Hoa Kiều và thậm chí ở trường hợp Hàn Quốc
họ c̣n xây hẳn một khu cư trú cho giới khoa học kiều bào của họ.
Do đó, để thu hút được
các chuyên gia nước ngoài, kể cả chuyên gia gốc Việt, vấn đề
không chỉ là những lời kêu gọi chung chung cảm tính như yêu
nước, thương quê, và cũng không phải là những con số mang tính
chỉ tiêu duy ư chí, mà là một tầm nh́n xa và rộng hơn. Vấn đề
không chỉ là lương bổng, mà là tạo ra một môi trường làm việc
thông thoáng và minh bạch, và nhất là trao quyền tự chủ cho nhà
khoa học.
Theo tôi, không nên
đưa ra những con số mang tính chỉ tiêu hay những lời mời gọi
chung chung khi chưa có một chương tŕnh làm việc cụ thể hay một
cơ chế khả thi. Thật ra, bài toán 1000 giáo sư Việt kiều sẽ
không có đáp số, không phải giới khoa học người Việt ở nước
ngoài không muốn hợp tác, mà v́ trong thực tế lực lượng khoa học
gia gốc Việt ở nước ngoài không hùng hậu đến như thế.
Ở một khía cạnh khác, theo tôi, không nhất thiết Việt kiều phải
về Việt Nam, v́ trong nhiều ngành nghề, người Việt ở nước ngoài
vẫn có thể đóng góp cho quê hương dù ở ngoại quốc. Trong thời
đại viễn thông và internet ngày nay, nơi chốn làm việc không c̣n
là một vấn đề lớn nữa. Nhưng vấn đề là làm sao tập trung và nối
kết được trí thức Việt và các cơ quan nhà nước hay doanh nghiệp
tư nhân. Hiện nay, có thể nói, các sứ quán Việt Nam ở nước
ngoài dù có cố gắng nhưng vẫn chưa phải là cầu nối thân mật giữa
Việt kiều và Việt Nam. Trong thực tế, mối liên hệ giữa Việt
kiều và các sứ quán vẫn c̣n một khoảng cách dè dặt đáng kể, cho
nên việc huy động nguồn lực Việt ở nước ngoài vẫn chưa được thực
hiện có hệ thống.
Một vài lời kết
Dù sống xa quê nhà, nhưng tôi vẫn đau đáu theo dơi t́nh h́nh ở
trong nước, nhất là những vấn đề liên quan đến y tế, giáo dục,
và khoa học. Thú thật, tôi không nhớ hết đă viết bao nhiêu bài
liên quan đến các chủ đề này trong ṿng 12 tháng qua, nhưng chỉ
biết là khá nhiều lần tôi đóng góp trên các tạp chí như Tia
Sáng, Thời báo Kinh tế Sài G̣n, Tuổi Trẻ, Hoạt động Khoa học,
Sức khỏe và Đời sống, Thời sự Y học TPHCM, v.v... Phần lớn
những ư kiến trên các diễn đàn này đều xuất hiện trên
ykhoanet.com.
Năm nay kỉ niệm 7 năm ykhoanet.com chào đời và góp tiếng nói y
khoa ở Việt Nam. Mối thâm t́nh giữa tôi và các anh em trong
ykhoanet.com chỉ mới vài năm gần đây, nhưng đă ghi được nhiều
dấu ấn quan trọng. Có nhiều bạn thắc mắc chẳng biết những ǵ
chúng tôi làm trên ykhoanet.com có đem lại lợi ích cá nhân ǵ
không. Đôi khi chúng tôi thấy câu hỏi hơi … xúc phạm. Câu trả
lời đơn giản và thằng thắn là: không. Chúng tôi làm việc hoàn
toàn tự nguyện. Ở ngoài này, trong giờ làm việc chúng tôi là
người của cơ quan, của đại học, của viện nghiên cứu, nhưng sau
giờ làm việc (phần lớn là ban đêm và ngày cuối tuần) chúng tôi
làm việc v́ Việt Nam, v́ bạn bè, v́ đồng nghiệp, và v́ lợi ích
cộng đồng. Nh́n lại một năm làm việc tôi thấy ḿnh đă nói được
những điều ḿnh muốn nói, và rất vui khi biết ư kiến ḿnh có
người chú ư theo dơi hay lắng nghe.
Nhân dịp cuối năm dương lịch, và cũng là lúc năm con chuột sắp
đến, tôi chân thành kính chúc các bạn và các đồng nghiệp một năm
mới nhiều an lành và nhiều may mắn.
TB. Cuối
cùng, xin các bạn thông cảm trong bài ê a này tôi sử dụng nhiều
“tôi” – cái tôi đáng ghét. Nhưng biết sao đây, khi đó là ư kiến
cá nhân, tức là ư kiến của … tôi.
Uploaded:
06 August, 2009 |