Tác dụng Placebo trong y học:
Tâm lí và ư nghĩa
Nguyễn Văn Tuấn
YKHOANET 080608 - Y khoa Tây phương dựa vào
thử nghiệm để phát triển thuốc men và phương pháp điều trị. Khi
một công thức hoá học đă được phát triển, các nhà nghiên cứu
thường dùng nó trong các động vật có nhiều đặc tính sinh học
giống con người như chuột và thỏ để t́m hiểu phản ứng, hiệu quả,
và an toàn của thuốc. Sau khi đă xác định được công thức thuốc
này an toàn và hiệu nghiệm, họ tiến hành thêm thử nghiệm để xác
định liều lượng. Để biết được một loại thuốc mới (hay phương
pháp điều trị mới) có hiệu nghiệm ở người hay không và hiệu
nghiệm ở mức độ nào, các nhà nghiên cứu y khoa thường hay tiến
hành những cuộc thử nghiệm lâm sàng. Tiếng Anh gọi những cuộc
thử nghiệm này là "Randomized controlled clinical trials"
(mà tôi tạm dịch là "Thử nghiệm lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên")
[1]. Đây là một phương pháp khoa học được giới khoa học, khoa
bảng, và các cơ quan y tế chính phủ chấp nhận và công nhận là
khách quan nhất và kết quả có độ tin cậy cao nhất. Tất cả các
loại thuốc và phương pháp điều trị, trước khi được phép bán trên
thị trường hay dùng vào việc điều trị, đều phải trải qua nhiều
cuộc thử nghiệm lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên.
Tùy theo trường hợp bệnh tật, loại thuốc,
và giai đoạn, những cuộc thử nghiệm này thường được nhiều bệnh
nhân t́nh nguyện tham gia để vừa được điều trị và theo dơi
thường xuyên bởi người thầy thuốc, vừa không trả một chi phí
nào. Thông thường, trong một cuộc thử nghiệm lâm sàng, bệnh
nhân được chia thành hai (hoặc nhiều hơn) nhóm; trong đó, có một
(hay vài) nhóm mà bệnh nhân được điều trị bằng thuốc thật với
liều lượng khác nhau, và một nhóm được "điều trị" bằng "placebo"
[2]. Placebo là một loại thuốc giả mà các nhà nghiên cứu bào
chế sao cho nó hoàn toàn không có một tác dụng sinh lí ǵ đến
căn bệnh, nhưng đồng thời cũng không làm hại đến sức khỏe bệnh
nhân. Placebo được bào chế có h́nh dạng và mùi vị giống y như
thuốc thật, với ư định không cho người dùng phân biệt được thuốc
thật hay giả.
Bệnh nhân được phân chia nhận thuốc thật và
placebo một cách ngẫu nhiên. Để bảo đảm tính khách quan trong
khi thẩm định quá tŕnh tiến triển của bệnh nhân, bác sĩ và y tá
không biết bệnh nhân đang nhận thuốc thật hay giả. Bệnh nhân
cũng không biết ḿnh dùng thuốc thật hay giả. Đây là cách
nghiên cứu “double-blind”, tức cả hai thành phần trong cuộc thử
nghiệm đều “mù”. Trong nhóm nghiên cứu, chỉ có một nhà nghiên
cứu độc lập có danh sách bệnh nhân nhận thuốc nào, và chính nhà
nghiên cứu này phân tích dữ kiện và căn cứu vào các dữ kiện này
để đánh giá sự hữu hiệu của thuốc.
Khi đánh giá sự hữu hiệu của thuốc, các nhà
nghiên cứu, do đó, thường so sánh tác dụng của thuốc thật và
placebo. Dĩ nhiên, theo lí thuyết sinh hóa, placebo sẽ không có
tác dụng, hoặc có th́ cũng không đáng kể và có thể do các yếu tố
ngẫu nhiên. Do vậy, nếu tác dụng của thuốc thật cao hơn tác
dụng placebo, các nhà nghiên cứu có bằng chứng để có thể kết
luận rằng thuốc đang được thử nghiệm có hiệu quả. Tuy nhiên,
nếu tác dụng của hai nhóm placebo và thuốc thật giống nhau, th́
các nhà nghiên cứu không có lí do nào khác hơn là kết luận rằng
thuốc đang thử nghiệm không có hiệu quả. C̣n lí do tại sao th́
sẽ là đề tài bàn thảo, tranh luận, nghiên cứu và có thể làm ...
thử nghiệm thêm.
Nhưng trong thực tế, những ǵ xảy ra không
đơn giản như thế. Có nhiều nghiên cứu cho thấy placebo cũng có
tác dụng không kém ǵ thuốc thật! Nhiều vấn đề nan giải được
đặt ra như đánh giá sự hiệu nghiệm của thuốc thật như thế nào
cho công bằng (chẳng hạn như có nên so sánh với placebo hay so
sánh với t́nh trạng của bệnh nhân trước khi dùng thuốc), và quan
trọng hơn là tại sao tác dụng placebo lại đáng kể, trong khi
theo khoa học nó “đáng lẽ” không nên có tác dụng ǵ cả.
Một vài thử nghiệm lạ lùng
Khoảng 40 năm trước đây, một bác sĩ người
Anh, Kenneth B. Thomas, đă làm một thí nghiệm nho nhỏ trong 200
"bệnh nhân" của ông. Những người này chỉ cảm thấy không khỏe
trong người và buồn chán (tiếng Anh gọi một cách ví von là
under the weather); nói cách khác, những người này hoàn toàn
không có dấu hiệu bất b́nh thường ǵ trong cơ thể. Ông chia
những thân chủ của ḿnh thành hai nhóm: Đối với nhóm 1, ông cho
họ một chẩn đoán và nói đại khái là họ sẽ b́nh phục trong vài
ngày; với nhóm 2, ông nói với họ rằng ông không biết họ bị bệnh
ǵ, và cũng không biết chắc chắn bao giờ th́ họ sẽ hết "bệnh".
Kết quả? Hai tuần sau, 64% nhóm 1 (tức nhóm được tham vấn và
khích lệ) b́nh phục; nhưng trong nhóm 2, chỉ có 39% trở lại
trạng thái b́nh thường.
Năm 1994, Bác sĩ giải phẫu J. Bruce Moseley
thuộc Trung tâm Y khoa Cựu chiến binh tại Houston, Mĩ (Houston
Veteran's Affairs Medical Center) được phép làm một cuộc thí
nghiệm rất hi hữu trong lịch sử nghiên cứu y khoa. Với sự đồng
ư và t́nh nguyện của 10 bệnh nhân bị đau khớp xương đầu gối, Bác
sĩ Moseley tiến hành nghiên cứu về sự hiệu nghiệm của một ca
giải phẫu … giả. Theo chương tŕnh của cuộc thử nghiệm, tất cả
10 bệnh nhân đều được khám kĩ càng và gây mê; sau đó, họ được
chuyển vào pḥng hồi phục (recovery Room) và cho xuất viện vào
sáng ngày hôm sau, với nạng và thuốc giảm đau.
Hai bệnh nhân được điều trị thật, với các
thuật giải phẫu chuẩn như cạo, rửa xương đầu gối; 3 bệnh nhân
khác chỉ được rửa, nhưng không cạo nhẵn; và 5 bệnh nhân c̣n lại
không được rửa mà cũng chẳng cạo, bác sĩ chỉ nhấn dao mổ vào đầu
gối bệnh nhân ba lần để cho họ cảm thấy và nh́n thấy như ḿnh
vừa được mổ (nói cách khác, 5 bệnh nhân này hoàn toàn không được
điều trị ǵ cả). Điều lí thú, và có thể nói là lạ lùng, là: vài
tuần sau, cả 10 bệnh nhân được b́nh phục như nhau! Năm bệnh
nhân được điều trị giả không cảm thấy đau như xưa nữa!
Tháng Giêng năm 2001, Tạp chí Y học của Úc
(Medical Journal of Australia) công bố kết quả của một thử
nghiệm lâm sàng do một nhóm nghiên cứu ở Melbourne thực hiện về
sự hiệu nghiệm của thuốc Bắc trong việc điều trị triệu chứng
nóng mặt và khô âm hộ ở các phụ nữ sau thời ḱ măn kinh. Các
nhà nghiên cứu chọn 55 phụ nữ với tuổi trung b́nh khoảng 55
tuổi, và họ chia thành 2 nhóm: Nhóm 1 gồm 28 phụ nữ được điều
trị bằng thuốc Bắc, và nhóm 2 gồm 27 phụ nữ được điều trị bằng
thuốc Bắc giả (tức placebo). Nhưng bệnh nhân trong cả hai nhóm
không biết ḿnh được uống thuốc thật hay giả. Sau 12 tuần điều
trị, kết quả cho thấy bệnh nhân trong nhóm 2 có tỉ lệ giảm đau
là 31%, trong khi nhóm 1 giảm chỉ 15%. Nói một cách khác, nhóm
được điều trị bằng thuốc Bắc giả dó tỉ lệ giảm đau cao hơn nhóm
được điều trị bằng thuốc Bắc thực! Các nhà nghiên cứu rất lúng
túng không biết giải thích sao cho ổn trước kết quả này.
Trên đây chỉ là vài trường hợp có tính tiêu
biểu mà tôi đă chọn trong hàng trăm thử nghiệm được công bố
trong các tạp chí y học trên thế giới, mà trong đó bệnh nhân
được điều trị bằng thuốc thật hoặc không hiệu nghiệm, hoặc hiệu
quả không bằng những bệnh nhân được "điều trị" bằng thuốc giả
(placebo). Trong giới nghiên cứu y học, hiện tượng này được gọi
là Placebo effect, mà tôi tạm dịch là "Tác dụng placebo",
hay "Tác dụng ảo". V́ thế, có thể định nghĩa rằng: tác dụng
placebo là cụm từ dùng để diễn tả một tác dụng tích cực, không
phải do kết quả của một phương cách điều trị đem lại, mà có thể
do tâm lí của bệnh nhân nghĩ [hay ḱ vọng] rằng họ đang được
điều trị bằng thuốc thật.
Tác dụng placebo: thực hay giả?
Phải nói ngay rằng: tác dụng placebo là
thực. Tuy rằng ảnh hưởng của placebo có thể là ảo tưởng, nhưng
không phải là giả tạo. Bệnh nhân với bất cứ đau nhức nào, từ
nhức đầu đến đau tim, đến ung thư, có thể cảm nhận được lợi ích
từ placebo. Trong nhiều trường hợp, bệnh nhân có thể thấy đau
nhức được giảm đến 50% trong một thời gian ngắn. Ngoài ra,
nhiều nghiên cứu cho thấy placebo c̣n có thể giảm nôn ói, giảm
ho, giảm độ mỡ trong máu, v.v...
Thực ra, theo quan niệm và hiểu biết của y
học hiện đại, có thể nói rằng y khoa Tây phương trong nhiều thế
kỉ trước đây cũng chỉ là những tác dụng placebo. Bệnh nhân cảm
thấy khỏe khoắn hơn sau khi thấy rút máu từ trong cơ thể ra bằng
đỉa rừng, cảm thấy lành bệnh với một liều lượng thuốc được chế
biến từ phổi của chó sói, hay một dược thảo nào đó trong rừng,
v.v... Ngoài lí do sinh học, bệnh nhân có thể cảm thấy bệnh bớt
hơn, v́ do giá trị tượng trưng của những loại dược thảo
này.
Rất nhiều nhà nghiên cứu danh tiếng trên
thế giới đă và đang đi t́m nguyên nhân cho hiện tượng tác dụng
placebo, và cho đến nay, một số thuyết đă ra đời. Một trong
những thuyết cổ điển nhất cho rằng một khi bệnh nhân đă kinh
nghiệm bớt đau trong một môi trường y khoa (bệnh viện hay pḥng
mạch bác sĩ) với thuốc men và sự chú ư của người thầy thuốc, th́
lần sau khi được đặt trong một môi trường như thế, họ sẽ cảm
thấy bớt đau. Có thể hiểu thuyết này như là thuyết "mớm cung",
giống như trường hợp nổi tiếng về mối quan hệ giữa tâm lí và
thức ăn mà Bác sĩ Pavlov đă đề xuất vào khoảng đầu thế kỷ 20.
Thuyết thứ hai dựa vào các nghiên cứu sinh
hóa cho thấy khi bệnh nhân dùng placebo, cơ thể họ cũng đồng
thời bài tiết một hormone có tên là endorphin. Endorphin là một
hóa chất ở trong năo, và có khả năng giảm đau tương tự như thuốc
phiện. Phần nhiều các loại thuốc giảm đau thường có tác dụng
làm giảm đau qua điều chỉnh sự giải thoát endorphin trong cơ
thể.
Thuyết thứ ba dựa vào các dữ kiện nghiên
cứu cho thấy những bệnh nhân ở trong một t́nh huống căng thẳng
và nhạy cảm như suyển và huyết áp cao thường phản ứng rất tích
cực khi dùng placebo. Và trong t́nh huống nguy kịch như thế,
một viên thuốc, dù giả, có thể đem lại cho bệnh nhân một sự yên
tâm, giảm căng thẳng, và tăng niềm hi vọng, như người đang đuối
trên sông/biển vớ được một mảnh gỗ để làm phao.
Tất cả ba thuyết trên đây có một mẫu số
chung: yếu tố ḱ vọng, sự hứa hẹn được giúp đỡ từ một người
khác. Niềm hi vọng có tác dụng rất lớn không những trong đời
sống hàng ngày mà c̣n trong bệnh tật và thậm chí thời điểm qua
đời của bệnh nhân. Thưc vậy, trong một nghiên cứu được công bố
trên tờ Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Mĩ (JAMA), các nhà xă hội
học thuộc Trường Đại học California tại San Diego (UCSD) khám
phá ra rằng tỉ lệ tử vong ở người Trung Quốc giảm 35% trong tuần
lễ trước, nhưng tăng cũng vào khoảng 35% trong tuần lễ sau, ngày
Tết trung thu. Các nhà nghiên cứu này c̣n tiến hành thêm một
nghiên cứu khác ở người Do Thái, và có ghi nhận tương tự: Trong
tuần lễ trứơc này lễ Passover (một ngày lễ trọng đại trong văn
hóa Do Thái), tỉ lệ tử vong giảm khoảng 27% đến 65%; nhưng tuần
lễ sau ngày lễ này, tỉ lệ tử vong tăng lên khoảng 17% đến 35%.
Điều đáng ghi nhận là trong người Mĩ da trắng tỷ lệ tử vong
trước, trong, và sau hai ngày lễ này (Trung thu và Passover)
không thay đổi. Xu hướng sụt-trồi về tỉ lệ tử vong này là do sự
tŕ hoăn cái chết hay cố kéo dài sự sống trứơc một ngày lễ lớn
hay những ngày có ư nghĩa quan trọng như ngày sinh nhật chẳng
hạn.
Ngược lại, có những ngày có thể gây ra tinh
thần căng thẳng (stress) như tuần lễ nhận giấy đ̣i nợ (bills) có
thể là một động cơ làm tăng nguy cơ tử vong. Thật vậy, một
nghiên cứu gần đây được công bố trên New England Journal of
Medicine cho thấy tỉ lệ tử vong trong người già vào những
ngày đầu tuần (như Thứ Hai) cao hơn gấp hai lần so với những
ngày khác trong tuần. Ngày Thứ Hai là ngày mà bưu điện hay gửi
bill đ̣i nợ. Chính v́ nghiên cứu quan trọng này mà ngày nay ở
các nước phương Tây, các công ti có chính sách gửi bill vào tất
cả các ngày trong tuần chứ không tập trung vào ngày thứ Hai như
trước đây!
Sự hứa hẹn cũng là một cơ chế quan trọng
của tác dụng placebo. Có thể nói một cách trừu tượng hơn rằng
tác dụng placebo phản ánh mối quan hệ giữa người thầy
thuốc và bệnh nhân. Điều cơ bản trong mối quan hệ này là sự
liên lạc, thông tin giữa người thầy thuốc và bệnh nhân. Sự liên
lạc này có thể gói gọn trong phát biểu rằng "Anh/chị không đơn
độc. Tôi đang ở bên cạnh anh/chị đây." Trong sách y khoa của
Hippocrate, ông cũng có ghi nhận tác dụng của placebo như sau: "Một
số bệnh nhân, dù ư thức được là bệnh của họ đang trong giai đoạn
nguy kịch, nhưng lại hồi phục sức khỏe, đơn giản chỉ v́ họ hài
ḷng với sự chăm sóc của người thầy thuốc." Quả vậy, tác
dụng placebo có xu hướng tùy thuộc vào sự tương tác giữa người
thầy thuốc với bệnh nhân. Một nghiên cứu cho thấy khi bác sĩ tỏ
ra tin tưởng với một loại thuốc nào đó (chẳng hạn như câu phát
biểu "Thuốc này rất mạnh, và tôi tin là nó sẽ giúap cho anh/chị
khỏi bệnh"), bệnh nhân càng cảm nhận tác dụng placebo cao hơn,
có thể lên đến 80%.
Cái nguyên lí cơ bản của mối quan hệ thầy
thuốc-bệnh nhân c̣n có thể hiểu như một hợp đồng: bệnh nhân
chuyển giao ḷng tín nhiệm của ḿnh cho người thầy thuốc; và tin
rằng người thầy thuốc từ đó sẽ giúp đỡ họ. Hứa hẹn này đặt trên
một nền tảng chính là người bác sĩ sẽ điều trị bệnh nhân bằng
những kỹ năng và tri thức tiên tiến nhất và có ích cho bệnh
nhân. Với một niềm tin như thế, bệnh nhân cảm thấy an tâm là họ
đang được chăm sóc.
Có thể nói, placebo là một trong những yếu
tố quan trọng bậc nhất trong hội chẩn, song nó lại thường hay bị
bỏ quên. Trong 50 năm qua, y học đă trải qua một thời ḱ tiến
bộ quá nhanh, đến nổi người thầy thuốc có thể quên đi một bộ
phận của việc chữa trị rất ít dính dáng đến khoa học: biểu lộ
hay bày tỏ niềm cảm thông đến bệnh nhân. Chỉ một cái sờ
tay, một lời nói mang tính thương cảm có thể là một tiếp sức
quan trọng, một liều lượng đề kháng mạnh mẽ cho bệnh nhân.
Trong một bài phân tích gần đây được công bố trên tờ tạp chí
Annals of Internal Medicine, một nhóm nghiên cứu thuộc
Trường Đại học Maryland đă tổng kết và phân tích kết quả từ các
cuộc thử nghiệm lâm sàng, mà trong đó bệnh nhân được chữa trị
bằng xúc giác [3]. Trong số 11 thử nghiệm lâm sàng, có 7 thử
nghiệm cho thấy xúc giác trị liệu có kết quả tích cực. So với
bệnh nhân không được điều trị, sự hữu hiệu của xúc giác trị liệu
trong các nghiên cứu này thường được ghi nhận trong các bệnh
nhân với bệnh tim (giảm độ đau đớn và ít băn khoăn); bệnh nhân
bị chấn thương (thời gian lành bệnh nhanh hơn); bệnh nhân đau
khớp xương (giảm đau và trở thành năng động hơn); bệnh nhân bị
phỏng (độ đau ít hơn, lượng CD4+ ít hơn).
Tóm lại, có thể lí giải rằng tác dụng
placebo là thực, và placebo là một công cụ quan trọng mà bác sĩ
có trong tay. Ba trăm năm sau cuộc Cách mạng y học, placebo hay
mối quan hệ giữa người thầy thuốc và bệnh nhân vẫn c̣n là một
công cụ cực kỳ quan trọng của người thầy thuốc trong việc chăm
sóc sức khỏe cho bệnh nhân.
Chú thích:
[1] Thử nghiệm lâm sàng đối chứng ngẫu
nhiên không phải là một cuộc thí nghiệm như trong các nhà khoa
học thường làm trong các pḥng thí nghiệm, mà là một chương
tŕnh nghiên cứu. Chương tŕnh này được sự các cơ quan y tế
chính phủ giám sát cực kỳ gắt gao để đảm bảo an toàn tuyệt đối
cho bệnh nhân. Chỉ những nhà nghiên cứu có uy tín mới được phép
làm những thử nghiệm này. Gọi là “randomized” v́ bệnh nhân được
phân chia từng nhóm một cách hoàn toàn ngẫu nhiên, và
“controlled” là v́ bệnh nhân được chọn theo những tiêu chuẩn đă
định sẵn, và được theo dơi trong một môi trường có kiểm soát.
Thỉnh thoảng cũng có người dùng “Randomized double-blinded
controlled clinical trials”, trong đó chữ “double-blinded” dùng
để chỉ cả hai người bác sĩ và bệnh nhân không biết họ cho và
dùng thuốc ǵ. Báo chí thường mệnh danh những người tham gia
vào các chương tŕnh thử nghiệm này là “vật thí nghiệm” hay
“guinea pigs”. Thực ra, đây là những danh từ có tính rất xúc
phạm và hoàn toàn sai lầm. Bệnh nhân tham gia vào các chương
tŕnh thử nghiệm như thế có nhiều quyền lợi (họ có quyền rút ra
bất cứ lúc nào, họ được luật pháp bảo vệ tối đa, v.v…) và lợi
ích cá nhân, như được điều trị bằng những thuốc tiên tiến nhất.
[2] Chữ "Placebo" có một lịch sử khá lí
thú. Xuất phát từ tiếng Latin có nghĩa tiếng Anh là "I shall
please" ("tôi sẽ làm vui ḷng"). Placebo cũng là một câu phát
biểu đầu tiên người ta hay nghe trong buổi cầu kinh chiều trong
các nhà thờ Ki-tô giáo. Vào thời Trung cổ, chữ placebo dùng để
chỉ những người khóc mướn chuyên nghiệp hay ca hát thuê trong
đám tang.
[3] "Xúc giác trị liệu" (therapeutic
touch) là những phương pháp điều trị dựa vào sự vận dụng sinh
lực (Energy therapy) xuất phát từ cơ thể của bệnh nhân
(biofields hay sinh trường) hay điện từ trường (electromagnetic
field). Những phương pháp trị liệu này thường dùng sức ép hay
điều khiển cơ thể bằng sờ (xúc giác trị liệu) vào một bộ phận
nào đó trên cơ thể của bệnh nhân.
|