Quyền được tiếp
cận hồ sơ bệnh án
Nguyễn Văn Tuấn
(Bài đă đăng trên
Tuổi Trẻ 17/4/09 dưới tựa đề “Không cho xem bệnh án v́...
sợ!”)
Liên quan đến
quyền tiếp cận hồ sơ bệnh án, Việt Nam có lẽ là
một trong một số ít nước trên thế giới c̣n hạn chế quyền này của
bệnh nhân. Trước đây, hồ sơ bệnh án thường được bệnh viện hay
bác sĩ giữ kín trong mối quan hệ kín giữa bệnh nhân và bác sĩ,
nhưng ngày nay, mối quan hệ đó chịu sự chi phối của nhiều đối
tác mà hệ quả là thông tin của bệnh nhân có thể bị tiết lộ ra
ngoài gây tác hại cho bệnh nhân. V́ thế, luật pháp hiện đại cho
bệnh nhân quyền được tiếp cận và chỉnh sửa (nếu cần) những thông
tin trong hồ sơ bệnh án.
Năm 2001, Sandee Pingatore quyết tâm t́m
hiểu tại sao người con trai 29 tuổi của bà chết trong khi điều
trị tại một bệnh viện ở California, nhưng bệnh viện không tiết
lộ hồ sơ. Sau khi ra ṭa, ṭa án ra lệnh bệnh viện phải cunng
cấp hồ sơ bệnh án cho bà, và qua hồ sơ, bà mới biết con trai bà
đă ở trong t́nh trạng nguy kịch trước đó mấy giờ liền mà bác sĩ
và y tá không hề chăm sóc.
Năm 2006, Beth
Stover cũng muốn xem hồ sơ bệnh án của ḿnh để biết tại sao thai
nhi trong bụng bà bị chết một cách đột ngột, nhưng cũng gặp trở
ngại từ phía bệnh viện. Mặc dù luật của bang California cho
quyền bệnh nhân được tiếp cận hồ sơ bệnh án, nhưng bệnh viện
không chịu cung cấp hồ sơ. Cũng như trường hợp của Sandee
Pingatore, bà phải nhờ đến ṭa án, và khi xem qua hồ sơ, Beth
Stover chú ư sự thất thoát một số trang và số liệu quan trọng
trong hồ sơ trong lần xét nghiệm sau cùng. Bệnh viện chối là
không có làm ǵ sai, và hứa sẽ cho bà xem lại những trang số
liệu đó, nhưng bà không tin đó là kết quả xét nghiệm của ḿnh.
Hai trường hợp
trên đây cho thấy tầm quan trọng của hồ sơ bệnh án, và “văn hóa
y khoa” vẫn c̣n tồn tại ngay ở các nước có luật pháp chặt chẽ
như Mĩ. Tuy nhiên, một điều đáng tiếc là ngày nay vẫn tồn tại
một “văn hóa y khoa” cố t́nh dấu diếm thông tin từ bệnh nhân,
nhất là trong những trường hợp sai sót xảy ra trong quá tŕnh
điều trị và chăm sóc bệnh nhân.
Sai sót y khoa
là một điều xảy ra khá phổ biến trong bệnh viện. Theo ước tính
từ các nghiên cứu trước đây, cứ 100 bệnh nhân nằm viện th́ có
khoảng 7 đến 15 ca có sai sót về chăm sóc và điều trị. Bệnh viện
càng lớn, sai sót càng nhiều. Những sai sót y khoa thường tập
trung vào 3 nhóm chính là chẩn đoán sai, xét nghiệm quá mức,
điều trị chậm, và nhiễm trùng. Sai sót y khoa là một trong những
nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở Mĩ. Mỗi năm, có khoảng
100.000 đến 120.000 người Mĩ chết v́ sai sót y khoa (trong khi
tai nạn ôtô giết chết 43.000 người, và tai nạn máy bay gây tử
vong cho khoảng 250 người mỗi năm).
Do đó, khi bệnh
nhân muốn truy cập hồ sơ bệnh án, bệnh viện nhiều khi ở vào thế
“lúng túng” và nghi ngờ. Nghi ngờ bệnh nhân sẽ nhờ luật pháp can
thiệp và rắc rối với vấn đề bồi thường. Điều này dẫn đến thái độ
bất hợp tác của một số bệnh viện. Giáo sư Lucian Leape, một
chuyên gia người Mĩ bỏ ra cả đời chỉ nghiên cứu về sai sót y
khoa, nhận xét rằng văn hóa y khoa làm cho bệnh viện thiếu thành
thật với bệnh nhân.
Một số bệnh
viện và bác sĩ lí giải rằng hồ sơ bệnh án là của bác sĩ (hay
bệnh viện), v́ trong đó có những kết luận, phán xét, và “suy
nghĩ mơ màng” mang tính riêng tư của bác sĩ mà trong t́nh huống
khác (như biết được bệnh nhân có quyền truy cập) th́ có thể họ
sẽ viết khác. Ngoài ra, nếu bệnh nhân được tiếp cận các thông
tin này mà không được giải thích cặn kẽ th́ có thể gây ưu phiền
cho bệnh nhân. Một số bác sĩ và bệnh viện đồng ư cho bệnh nhân
truy cập hồ sơ bệnh án, nhưng chỉ những thông tin đă qua “biên
tập” dưới danh nghĩa giúp cho bệnh nhân “dễ hiểu.”
Nhưng bệnh nhân
lí giải rằng những thông tin trong hồ sơ bệnh án là của bệnh
nhân, chứ không phải của bệnh viện hay bác sĩ, bởi v́ bệnh nhân
là người cung cấp thông tin qua trực tiếp (như khám sức khỏe)
hay gián tiếp (chẳng hạn như xét nghiệm máu và nước tiểu). Nói
cách khác, bệnh nhân chính là người chủ của thông tin trong hồ
sơ bệnh án. Ngày nay, những thông tin trong hồ sợ bệnh án càng
ngày càng phong phú (với những kết quả xét nghiệm và chẩn đoán,
hội chẩn, v.v…), bệnh nhân có quyền được biết những thông tin
được ghi chép trong hồ sơ có chính xác hay không, có quyền biết
những thông tin đó được phân phối cho ai, ở đâu, và lúc nào.
Bệnh nhân cũng cần tham vấn nhiều bác sĩ hay bệnh viện khác
nhau, v́ thế hồ sơ bệnh án rất quan trọng cho việc trao đổi
thông tin, nhất là trong thời đại điện tử và liên mạng như hiện
nay.
Trong thời đại
điện tử, hồ sơ bệnh án có thể được bảo mật bằng mă số mà chỉ có
bệnh nhân biết được. Khi bệnh nhân có quyền truy cập hồ sơ bệnh
án của ḿnh cũng có nghĩa là bệnh nhân làm chủ thông tin của
ḿnh, có thể kiểm tra và sửa đổi (nếu thông tin không đúng). Do
đó, bệnh nhân có trong tay một “vũ khí” lợi hại để bảo vệ quyền
riêng tư của ḿnh từ những xâm soi của người khác.
Chính v́ lí
giải này mà nhiều nước trên thế giới có hẳn luật pháp cho bệnh
nhân quyền tiếp cận hồ sơ bệnh án. Ở Liên bang Âu châu (EU),
Quốc hội có chỉ thị cho 12 nước thành viên phải ban hành luật
cho quyền bệnh nhân được tiếp cận hồ sợ bệnh án của họ. Ở Anh,
luật này được thông qua từ năm 1990. Ở Mĩ (phần lớn các bang),
Canada, New Zealand, v.v… luật pháp cho quyền bệnh nhân được
tiếp cận hồ sơ bệnh án của ḿnh. Bệnh nhân c̣n có quyền chỉnh
sửa thông tin trong hồ sơ nếu thông tin không chính xác.
Nói tóm lại,
qui ước truyền thống để bệnh viện và bác sĩ giữ thông tin bệnh
án của bệnh nhân không c̣n thích hợp trong thời đại mà hệ thống
chăm sóc sức khỏe đa ngành như hiện nay. Việc để cho cơ sở y tế
độc quyền trong việc tiếp cận hồ sơ bệnh án không c̣n phù hợp
với thực tế trong mối liên hệ giữa bệnh nhân và bác sĩ. Trong
mối liên hệ mới này, bệnh nhân đóng vai tṛ hợp tác một cách chủ
động với bác sĩ, chứ không phải ở mối quan hệ xin-cho. Trong vai
tṛ hợp tác, bệnh nhân có quyền tiếp cận hồ sơ bệnh án của ḿnh. |