Thịt động vật là một nguồn thực phẩm quan trọng cho con người từ
thời tiền sử. Những công cụ làm bằng đá để cắt thịt, xương cùng
với những dấu vết cắt trên động vật được t́m thấy và định tuổi
khoảng 2,5 triệu năm trước. Khi con người chuyển sang ăn thịt,
một loạt thay đổi về gien xảy ra để xử lí chất béo trong cơ thể
tốt hơn. So với khỉ, cơ thể con người có khả năng điều tiết
những thức ăn có nhiều cholesterol và chất béo tốt hơn. Ngoài
ra, cũng v́ ăn thịt nên hàm của con người trở nên nhỏ hơn để xử
lí thực phẩm động vật hữu hiệu hơn.
Đứng trên quan điểm đạo đức, việc sử dụng động vật như là một
nguồn dinh dưỡng đă từng gây ra nhiều tranh luận gay gắt. Những
người bảo vệ động vật lí giải rằng không có lí do ǵ để cướp đi
sự sống của một sinh vật khác làm thức ăn cho con người. Nhưng
những người ăn thịt động vật lại lí giải rằng động vật tồn tại
để phục vụ cho nhu cầu con người, và việc giết động vật để lấy
thịt làm thức ăn là điều có thể chấp nhận được.
Những lí giải của hai phe thường mang màu sắc triết lí. Nhưng
đứng trên quan điểm thực tế của y khoa, thịt động vật nói chung
vẫn được xem là một nguồn dinh dưỡng quan trọng, nhất là nguồn
cung cấp các chất khoáng như sắt, kẽm, retinol và sinh tố B12,
rất quan trọng cho sự phát triển cơ thể của trẻ em.
Nhưng ở người trưởng thành và cao tuổi, các chuyên gia dinh
dưỡng và y tế rất quan tâm đến mối liên hệ giữa thịt động vật,
nhất là thịt đỏ, và bệnh tật. Đă có nhiều nghiên cứu cho thấy
những nước hay cộng đồng tiêu thụ nhiều thịt động vật có tỉ lệ
mắc các bệnh măn tính như tim mạch, ung thư, tiểu đường, béo
ph́, loăng xương, v.v… cao hơn những nước có mức độ tiêu thụ
thịt động vật thấp. Tuần vừa qua, một nghiên cứu mới nhất và có
lẽ qui mô nhất về ảnh hưởng của thịt động vật đến nguy cơ tử
vong của con người càng khẳng định tác hại của chế độ ăn uống
với nhiều thịt động vật.
Các nhà nghiên cứu thuộc Viện nghiên cứu ung thư Mĩ đặt một câu
hỏi đơn giản: người ăn nhiều thịt có nguy cơ tử vong cao hay
thấp hơn người ít ăn thịt động vật? Để trả lời câu hỏi này, họ
phân tích thành phần thức ăn của gần nửa triệu người Mĩ tuổi từ
50 đến 71, và theo dơi t́nh trạng sức khỏe của họ trong ṿng 10
năm. Họ chia thịt động vật thành 3 nhóm: thịt đỏ (như thịt ḅ,
thịt trâu, thịt vịt); thịt trắng (như thịt gà, thịt heo, cá); và
thịt chế biến (như nem, gị, chả). Kết quả nghiên cứu có thể tóm
lược như sau:
(a) Tỉ lệ tử vong tăng dần theo lượng thịt đỏ. So với những
người tiêu thụ khoảng 10 g/1000 kcal thịt đỏ, những người tiêu
thụ 40 g/1000 kcal trở lên có nguy cơ tử vong tăng 30 đến 50%.
Tỉ lệ tử vong v́ các bệnh như ung thư, tim mạch cũng tăng từ 20%
đên 45.
(b) Những người tiêu thụ thịt trắng cao cũng có tỉ lệ tử vong
cao hơn những người có lượng tiêu thụ thấp, nhưng ảnh hưởng
không nghiêm trọng như thịt đỏ. So với những người có lượng tiêu
thụ thịt trắng 31 g/1000 kcal, những người với lượng tiêu thụ 37
g/1000 kcal có tỉ lệ tử vong tăng 35%.
(c) Những người tiêu thụ nhiều thịt chế biến sẵn (13 g/1000
kcal) có tỉ lệ tử vong tăng 20% đến 30% so với những người có
lượng tiêu thụ ít (5 g/1000 kcal).
Có nhiều lí do sinh học tại sao tăng hàm lượng thịt trong chế độ
ăn uống có thể gây tác hại cho sức khỏe. Đối với ung thư, thịt
động vật hàm chứa nhiều chất có thể gây ung thư như heterocyclic
amines và polycyclic aromatic hydrocarbon. Hai chất này h́nh
thành khi thịt được nấu ở nhiệt độ cao. Chất sắt trong thịt đỏ
dù là một nguồn dinh dưỡng quan trọng, nhưng nếu nhiều chất sắt
có thể làm gia tăng cường độ h́nh thành chất N-nitroso, cũng có
khả năng gây ung thư. Đối với hệ thống tim mạch, chúng ta biết
rằng hàm lượng thịt đỏ và thịt chế biến sẵn có liên quan đến cao
huyết áp, tăng cholesterol và trigyceride trong máu. Giảm lượng
thịt đỏ và thịt chế biến sẵn bằng cá và rau quả có hiệu quả cải
tiến huyết áp, và giảm cholesterol và trigyceride.
Theo nghiên
cứu của Viện dinh dưỡng, bữa ăn của người Việt đă
thay đổi đáng kể trong 10 năm qua, với mức tiêu thụ các thức ăn
chế biến sẵn tăng lên 4 lần so với 10 năm trước. Vẫn theo số
liệu của Viện dinh dưỡng, trong cùng thời gian, các thức ăn động
vật đă tăng từ 55 g/ngày (năm 1985) lên 113 g/người/ngày (năm
2000) và 180 g/người/ngày (năm 2005), chủ yếu do tăng tiêu thụ
thịt gấp 5 lần. Ngoài ra, lượng mỡ, dầu trong khẩu phần ăn tăng
từ 1,7g /người/ngày (1985) lên ~7 g/người/ngày (2000). Trong khi
đó, lượng rau xanh hầu như không thay đổi trong 20 năm qua, với
mức tiêu thụ trung b́nh 200 g/người/ngày (Tổ chức Y tế thế giới
để nghị mức tiêu thụ rau trung b́nh là 400 g/người/ngày). Nói
tóm lại, trong ṿng 10 năm qua, lượng thịt động vật, thịt chế
biến sẵn và chất béo đă tăng rất nhanh trong cổ phần ăn của
người Việt Nam, và đó là một điều đáng quan tâm.
Trong t́nh h́nh như trên, kết quả nghiên cứu vừa tŕnh bày rất
có ư nghĩa đến t́nh h́nh dinh dưỡng ở nước ta trong thời ḱ phát
triển kinh tế như hiện nay. Thật vậy, tần số các bệnh như ung
thư, tim mạch, tai biến, và béo ph́ ở nước ta đang càng ngày
càng tăng ở mức độ báo động. Theo nghiên cứu của đồng nghiệp
Việt Nam và chúng tôi, ở những người trên 40 tuổi tại Thành phố
Hồ Chí Minh, tỉ lệ béo ph́ lên đến 25%. Ngoài ra, một xu hướng
đáng ngại hơn là ở độ tuổi này, có khoảng 10-13% mắc bệnh tiểu
đường, tức c̣n cao hơn tần số ở các nước Âu Mĩ (khoảng 4-7%).
Thực phẩm đóng một vai tṛ cực ḱ quan trọng đến sức khỏe. Chính
v́ thế mà có người nói chính xác rằng bệnh tật một phần lón xuất
phát từ miệng chúng ta. Như đề cập trên, động vật là một nguồn
dinh dưỡng quan trọng, nhất là trong giai đoạn trưởng thành,
nhưng có nhiều bằng chứng cho thấy thay thế động vật bằng thực
vật vẫn đáp ứng nhu cầu tăng trưởng của cơ thể mà không gây tác
hại. Đối với những người không ăn thực vật, vấn đề là đi t́m một
chế độ ăn uống tối ưu với đạm động vật vừa phải và cân bằng với
đạm thực vật. Các chuyên gia dinh dưỡng đều đồng ư rằng một chế
độ ăn uống giảm lượng đạm động vật, nhất là thịt đỏ, và tăng
lượng rau quả là một chế độ ăn uống lành mạnh.
Con người khó có thể tiếp tục chế độ ăn uống mà trong đó hàm
lượng thịt động vật nhiều như hiện nay, bởi v́ dân số toàn cầu
càng ngày càng tăng nhanh. Số liệu thống kê quốc tế năm 2005 cho
thấy Trung Quốc, Ấn Độ, và Ba Tây (Brazil) là ba nước “thống
trị” thế giới về mức độ tiêu thụ thị động vật. Chỉ riêng Trung
Quốc tiêu thụ 49% lượng thịt động vật trên thế giới, và chỉ
riêng Ấn Độ tiêu thụ 34% lượng sữa toàn cầu! So với năm 2000,
lượng thịt tiêu thụ ở Trung Quốc trong năm 2005 tăng gấp 2,4
lần, lượng sữa tăng 3 lần, và cá tăng 1,2 lần. Các chuyên gia
kinh tế -- y tế tiên đoán rằng trong ṿng 50 năm tới, thế giới
sẽ đối đầu với vấn đề thiếu thực phẩm, và chiến tranh có thể xảy
ra chỉ v́ miếng ăn! Thật ra, viễn cảnh đó đang xảy ra ở một số
nước nghèo hiện nay.
Trong t́nh h́nh như thế, câu hỏi đặt ra là mỗi chúng ta có thể
làm ǵ để tránh t́nh trạng thiếu thực phẩm và … chiến tranh.
Cách mà mỗi cá nhân có thể làm được là hạn chế lượng tiêu thụ
thịt động vật đến mức an toàn và gia tăng lượng thực vật. Làm
như thế chẳng những bảo vệ sức khỏe cá nhân mà c̣n góp phần giúp
thế giới giảm nguy cơ thiếu ăn và làm cho môi trường sống lành
mạnh hơn.
Tham khảo:
Sinha R, et al. Meat intake and mortality. A prospective study
of over half a million people. Arch Int Med 169(6):562-571.
He FJ, et al. Fruit and vegetable consumption and stroke:
meta-analysis of cohort studies. Lancet 2006; 367:320-326.