|
Chất vấn chuẩn chẩn đoán béo ph́
Nguyễn Văn Tuấn
Hôm nay
(Ngày 12/2/2010), tập san
Obesity (trước đây là
Obesity Research) công bố một nghiên cứu của một nhóm nghiên
cứu Việt – Mĩ – Úc về béo ph́. Viện Nghiên cứu Y khoa Garvan ra
một thông cáo báo chí (press release) dưới đây.
Đây là một nhóm nghiên
cứu từ 3 nước: phía Việt Nam có Bs Hồ Phạm Thục Lan và Bs Lại
Quốc Thái, thuộc Đại học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch và Bệnh viện
115; phía Mĩ có Gs Elizabeth
Barrett-Connor; và phía Úc có Ts Nguyễn Đ́nh
Nguyên và tôi. Câu
chuyện về công tŕnh của chúng tôi hơi dài, nhưng tôi sẽ viết
ngắn để các bạn nắm được vấn đề và thấy tầm quan trọng của
nghiên cứu chúng tôi. (Quan trọng thật, chứ không quảng cáo
đâu).
Tiêu chuẩn vàng để chẩn
đoán béo ph́ là lượng mỡ trong cơ thể.
Trọng lượng cơ thể gồm 2 thành phần chính: lượng nạc
(lean mass) và lượng mỡ (fat mass).
Béo ph́ được định nghĩa là lượng mỡ trong người tăng cao
đến mức có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe.
Do đó,
tiêu chuẩn vàng để chẩn
đoán béo ph́ là lượng mỡ trong cơ thể.
Lượng mỡ rất khó đo
lường, v́ cần phải có dụng cụ phức tạp hay máy móc đắt tiền.
Thiết bị chuẩn để đo
lượng mỡ trong người là máy DXA (dual energy X-ray
absorptiometry), nhưng máy DXA khá đắt tiền nên chỉ có những
bệnh viện lớn.
Trong điều kiện khó đo
lượng mỡ, giới y khoa dựa vào trọng lượng và chiều cao để chẩn
đoán béo ph́.
Thay v́ dùng máy DXA, người ta phát triển ra một chỉ số đơn giản
hơn, có nguồn gốc từ thế kỉ 19. Chỉ số này gọi là body mass
index (BMI) hay
chỉ số Quetelet (nhà toán học người Bỉ phát triển cách tính này)
được tính toán bằng cách lấy trọng lượng chia cho chiều cao b́nh
phương. Trọng lượng tính bằng đơn vị kílô, và chiều cao tính
bằng mét. BMI
có tương quan cao với lượng mỡ. Người có
BMI
cao cũng thường có lượng mỡ cao (nhưng không phải ai cũng vậy)
(1).
Tổ chức Y
tế Thế giới đề nghị những ai có BMI
bằng hoặc cao hơn 30 th́ chẩn đoán là béo ph́.
Nhưng đó là chuẩn cho
người châu Âu (da trắng), và chưa chắc áp dụng cho người châu Á.
Giả định về mối liên hệ
giữa lượng mỡ và
BMI.
Đă từ lâu (trên 15
năm qua), người ta giả định rằng nếu hai người châu Á và châu Âu
(da trắng) có cùng body mass index (BMI), th́ người châu Á có nhiều lượng mỡ hơn. Dù
bằng chứng rất “mỏng”, nhưng h́nh như ai cũng chấp nhận giả định
này. Chấp nhận giả định này có nghĩa là tiêu chuẩn
BMI
chẩn đoán béo ph́ cho người châu Á phải thấp hơn người châu Âu.
Thấp hơn bao nhiêu th́ chưa ai biết, nhưng đă có nhiều người đề
nghị rằng đối với châu
Á, BMI
cao hơn hay bằng 25 th́ nên chẩn đoán là béo ph́.
Đề nghị này được các
nước Á châu hoan nghênh.
Nhưng chúng tôi nghĩ khác. Chúng tôi cho rằng giả định trên sai.
Thật vậy, khi xem xét qua y văn và đọc kĩ bài báo năm 1994 (bài
báo mà họ cho rằng người châu Á có tỉ lệ lượng mỡ cao hơn người
châu Âu), chúng tôi thấy chẳng có khác nhau ǵ đáng kể giữa
người châu Á và người Mĩ gốc Âu châu!
Do đó, giả
thuyết chúng tôi đặt ra là không có khác biệt về tỉ lệ mỡ giữa
người châu Á và châu Âu nếu họ có cùng
BMI. Để kiểm định giả thuyết này, chúng tôi
phải phân tích lượng mỡ của một nhóm phụ nữ ở Việt Nam và ở Mĩ.
Sau đó, chúng tôi “bắt cặp” một phụ nữ Việt Nam và một phụ nữ Mĩ
(da trắng) sao cho mỗi cặp có cùng độ tuổi và cùng
BMI. Kế đến chúng tôi so sánh tỉ lệ mỡ giữa
hai nhóm Việt Nam và Mĩ.
Kết quả cho
thấy hai nhóm này có tỉ lệ mỡ tương đương nhau (Việt Nam: 35.6%, Mĩ: 35.8%). Để chắc
ăn, chúng tôi c̣n làm nhiều phân tích khác nữa, và kết quả vẫn
không thay đổi. Tức là, tỉ lệ mỡ ở phụ nữ Việt
Nam
tương đương với tỉ lệ mỡ ở phụ nữ Mĩ gốc châu Âu.
Kết quả này cho thấy giả định mà giới y khoa quốc tế và WHO dựa
vào trong ṿng 15 năm qua là sai. Bởi v́ giả định sai, cho nên
ngưỡng BMI
dùng để chẩn đoán béo ph́ cho người châu Á (BMI>25)
cũng sai.
Công tŕnh
của chúng tôi là công tŕnh hiếm và lần đầu tiên có một so sánh
trực tiếp giữa hai sắc dân, với công nghệ DXA. (Trước đây, toàn
là những so sánh gián tiếp và không sử dụng DXA). Do đó, ư nghĩa
của nghiên cứu này quan trọng ở chỗ là nó làm cho người ta phải
quay lại từ đầu để xác định ngưỡng
BMI
cho chẩn đoán béo ph́ cho cả Á châu.
Cho đến nay, chưa ai biết ngưỡng BMI
hay lượng mỡ đó là bao nhiêu để chẩn đoán béo ph́ cho người châu
Á, v́ chưa có nghiên cứu dài hạn. Chúng ta cần phải nghiên cứu
hàng ngàn người và theo dơi từ 5 đến 10 năm để biết ở lượng mỡ
hay BMI
bao nhiêu để có thể xác định là nguy hiểm đến tính mạng. Ở Á
châu, chưa có những nghiên cứu như thế.
Đương nhiên, trong hoạt động khoa học, một kết quả mang tính
thách thức thường sẽ bị xâm soi rất kĩ. Nay mai đây, sẽ có rất
nhiều người trên thế giới t́m mọi cách để phản bác nghiên cứu
của chúng tôi. Nhưng tôi nghĩ rất khó phản bác kết quả này, v́
chúng tôi đă làm rất cẩn thận với tất cả những phân tích từ đơn
giản đến tinh vi có thể làm được. Chúng tôi đă chuẩn bị tinh
thần để “chiến đấu”.
Nhưng làm cái ǵ cũng phải nghĩ đến Việt Nam. Trong tương lai gần hay trung
hạn th́ chúng ta vẫn phải sử dụng BMI
để chẩn đoán béo ph́, vậy th́ câu hỏi đặt ra là: chuẩn
BMI
để chẩn đoán béo ph́ cho người Á châu hay cụ thể là người Việt Nam là bao
nhiêu? Tôi chắc chắn rằng không phải là 25 như đa số các nước
châu Á đang áp dụng hiện nay. Nhưng tôi cũng không có câu trả
lời chính xác, v́ chưa có nghiên cứu dài hạn (như nói trên). Tuy
nhiên, qua xem xét y văn về mối tương quan giữa
BMI và tử vong ở Trung Quốc và Hàn
Quốc, tôi cho rằng chúng ta có thể sử dụng chuẩn
BMI>30 để chẩn đoán béo ph́ cho người Việt Nam.
NVT
TB: (1) Cần nói thêm rằng, chẩn đoán béo ph́ dựa vào
BMI
thiếu chính xác. Bởi v́ cái tử số của công thức
BMI
là trọng lượng cơ thể, mà trọng lượng cơ thể bao gồm 2 phần
chính: nạc và mỡ. Do đó, một người có nhiều nạc và ít mỡ (như
lực sĩ hay cầu thủ đá banh chẳng hạn) vẫn bị xem là béo ph́ nếu
họ có trọng lượng cao, và điều này rất … vô duyên. Thật vậy, nếu
dựa vào BMI > 30,
th́ ông thống đốc California Arnold Schwarzenegger, hay tài tử
Brad Pitt là béo ph́!
Đây là một
công tŕnh thú vị về thời điểm. Sau vài tháng b́nh duyệt, và
phản hồi qua lại, chúng tôi nhận được thư báo tin tập san chấp
nhận cho công bố là ngày 30/12/2009, tức là trước Tết Tây 2
ngày. Ngày bài báo được công bố online là ngày hôm nay, tức là
trước Tết Canh Dần 2 ngày. Tôi xem đây là một món quà Tết ngọt
ngào. Món quà này cũng là quà cho các bạn đọc trang blog này
nữa. Vậy, mến chúc các bạn một năm Canh Dần an khang và nhiều
may mắn.
===
http://www.garvan.org.au/news-events/news/raising-the-question-of-obesity-in-asia.html
Raising
the question of obesity in Asia
When it comes to obesity, it would seem that it’s very important
to define terms, and equally important to ask questions about
those terms.
So say Australian, Vietnamese and American scientists who
challenge findings published in 1994 which concluded that for a
given Body Mass Index (BMI), a measure of body fat based on weight and
height, Asians have a higher percentage of body fat than
Caucasians.
The 1994 study drew conclusions from measurements of percentage
body fat and BMI of Chinese and Caucasian women living in New York. The study,
though small, has been widely cited since and continues to
influence the opinions of obesity experts worldwide.
Professor Tuan Nguyen, from Sydney’s Garvan Institute of Medical
Research, took a close look at the original paper, saw that fat
mass did not vary much between the two populations of women, and
hypothesised that Asians and Caucasians have a similar
percentage of body fat for a given body size.
To test the hypothesis, Professor Nguyen collaborated with
Vietnamese and American colleagues to undertake a comparative
study. In association with Dr Ho-Pham Thuc Lan from the
Pham
Ngoc Thach
Medical
University
in Ho Chi Minh City,
Nguyen had already measured the BMI
and body fat percentage of 210 Vietnamese women for another
study.
As it happened, Professor Elizabeth
Barrett-Connor, from the
University
of California
at San Diego, had collected
similar data, using identical equipment, from over 400 American
women of European descent.
The researchers agreed to share data, and to match the
Vietnamese and American groups by age and
BMI. When they compared the percentage of body
fat in the women, they found it to be identical. Their findings
are published in Obesity, now online.
“For years, it has been argued that Asian women with a
BMI
over 25 should be considered obese,” said Professor Nguyen.
“That would make roughly 40% of the women in Vietnam obese, which is patently
absurd. If instead, you make the BMI
threshold 30, as it is in the West, the obesity figure drops to
less than 5%”
Obesity is defined as a condition where the amount of body fat
is harmful to wellbeing and health - fat mass being the critical
factor. The gold standard method for measuring fat mass involves
using a relatively expensive densitometer, known as a DXA
(dual-energy X-ray absorptionmetry) machine.
As DXA is not available in most healthcare settings,
BMI
is used instead. BMI
is at best an approximate, and sometimes misleading, measurement
because it does not distinguish between fat mass, muscle mass,
bone and vital organs. Some athletes, for example, could be
classified as obese because they have a high muscle mass that
contributes to their high BMI.
Professor Nguyen believes that a re-evaluation of optimal BMI thresholds in Asia
at least provides a useful new starting point from which to
proceed.
“We still do not know what percent body fat should be used to
define obesity in Asian populations because we still do not have
a long term study,” he said.
“A few recent studies in Asian populations appear to suggest
that the risk of mortality increases when
BMI is greater than 30, so there seems to be
no need for lower BMI
cut-off points in Asians”.
“A few years ago, the World Health Organisation attempted to
define an appropriate BMI
cut-off level for Asians, but couldn’t because there wasn’t
adequate data.”
“We believe our study draws a new line in the sand. We are
saying that we don’t believe that 25 is a realistic threshold,
and that 30 is probably closer to the mark. Now we must test
that threshold in Asian populations over the coming decades.”
|