Mỡ trong máu, huyết áp,
và tiểu đường
Nguyễn Văn Tuấn
Bất định trong y khoa: Bạn chọn
phương án nào ?
Thử tưởng tượng rằng bạn đang ở tuổi 60, kém may mắn v́ mắc bệnh tiểu đường.
Chẳng những thế, bạn c̣n có vấn đề huyết áp cao và nồng độ mỡ LDL và
triglyceride trong máu cũng gia tăng trong thời gian gần đây một cách đáng ngại.
Bạn quan tâm đến nguy cơ bị chết v́ bạn c̣n trẻ (mới 60 mà), và muốn t́m phương
án điều trị tối ưu để giảm nguy cơ tử vong.
Nếu tôi tŕnh bày một phương án điều trị giảm huyết áp, tạm gọi là phương án A,
sẽ giảm huyết áp tâm thu của bạn xuống 130 mmHg. Tôi có dữ liệu cho thấy trong
số 1000 người điều trị bằng phương án này trong ṿng 1 năm, sẽ có 21 người chết
và 979 người sống. Nếu bạn chọn phương án này, tôi không biết bạn nằm trong số
không may mắn (chết) hay số sống sót. Bạn chọn phương án này không? Có lẽ không.
OK, tôi cho bạn một lựa chọn khác. Với phương án B, huyết áp của bạn sẽ giảm
xuống c̣n 120 mmHg, và tôi biết rằng trong số 1000 người được điều trị bằng
phương án này, sẽ có 19 người chết và 981 người sống trong ṿng 1 năm. Bây giờ
th́ có lẽ bạn sẽ chọn phương án B này. Nhưng nếu tôi cho bạn biết rằng với
phương án này có thể tăng nguy cơ giảm huyết áp thậm chí đột quị, th́ có lẽ bạn
phải ... ngần ngừ.
Bây giờ tôi tŕnh bày một phương án khác là … không điều trị ǵ cả, mà chỉ uống
nước lọc (tạm gọi là phương án C) và cẩn thận trong ăn uống. Theo phương án "giả
dược" này, trong số 1000 người, sẽ có 22 người chết và 978 người sống. Bạn chọn
phương án A, B hay C?
Có lẽ bạn thấy chẳng có khác nhau ǵ giữa 3 phương án, nhất là phương án A và B
tốn tiền và có biến chứng. Nếu bạn chọn phương án C và may mắn th́ c̣n sống (v́
xác suất sống là 97.8%) th́ vẫn tương đương với chọn phương án A và có thể c̣n
sống (xác suất sống là 98.1%).
Nhưng nếu tôi cho bạn một phương án khác nữa (tạm gọi là phương án D), không
dùng thuốc, nhưng tự bạn điều trị bằng chế độ ăn uống, bỏ hút thuốc lá, năng tập
thể dục như đi bộ hàng ngày, v.v… Tôi biết rằng trong số 1000 người theo phương
án điều trị này trong ṿng 1 năm, sẽ có 12 người chết và 988 người sống. Đến đây
th́ có lẽ bạn sẽ chọn phương án này D này.
Câu chuyện mà tôi tŕnh bày trên tuy là tưởng tượng, nhưng thật ra tôi mô phỏng
theo kết quả nghiên cứu có thật ngoài đời. Câu chuyện nói lên những bất định
trong điều trị bệnh tiểu đường. Sự bất định nằm ở chỗ dù bạn có điều trị hay
không điều trị th́ vẫn có nguy cơ tử vong, và mức
độ khác biệt về nguy ơ tử vong giữa các phương pháp điều trị trong thực tế rất
thấp. Điều này có nghĩa là khả
năng mà bạn có lợi ích từ điều trị cũng rất thấp (dưới 5%).
Thế nhưng nhiều bệnh nhân (và bác sĩ nữa) nghĩ rằng dùng thuốc điều trị là ḿnh
sẽ không mắc bệnh (tức là một suy nghĩ xác định – deterministic), nhưng trong
thực tế th́ không phải như thế. Trong thực tế, chỉ có một số nhỏ “đáp ứng” thuốc
mà thôi, phần đa số c̣n lại th́ thuốc chẳng có hiệu quả ǵ đáng kể, thậm chí c̣n
gây tác hại. Tại sao một số bệnh nhân đáp ứng trong khi nhiều bệnh nhân khác
không đáp ứng ? Câu trả lời rất phức tạp v́ nó c̣n tùy thuộc vào gen của bạn,
nhưng cái khó khăn là chưa ai biết gen nào quyết định bạn sẽ đáp ứng hay không
đáp ứng thuốc.
V́ t́nh trạng bất định, cho nên nhiều phương pháp điều trị hiện hành chẳng có
bằng chứng khoa học. Để có bằng chứng, các bác sĩ phải làm nghiên cứu khoa học.
Trong thời gian gần đây, có vài công tŕnh nghiên cứu khoa học liên quan đến
những phương án mà tôi vừa tŕnh bày. Để câu chuyện không khô khang, tôi sẽ
tŕnh bày ngắn gọn kết quả của những nghiên cứu đó là nhận xét của tôi về những
kết quả đó.
Huyết áp, mỡ trong máu và tiểu đường
Người mắc bệnh tiểu đường thường có một số đặc điểm chính như huyết áp tăng cao
và nồng độ mỡ trong máu tăng cao. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy hơn 50% bệnh
nhân tiểu đường mắc chứng cao huyết áp. Cao huyết áp và tăng nồng độ mỡ trong
máu là hai yếu tố gia tăng nguy cơ biến cố bệnh tim (như đột quị, suy tim, xơ
vữa động mạch) và tử vong v́ bệnh tim mạch. Người cao huyết áp có nguy cơ đột
quị tăng gấp 2.5 lần so với người có huyết áp b́nh thường. Khoảng 1/4 bệnh nhân
đột quị cũng là những người mắc tiểu đường.
Từ những sự thật trên, các chuyên gia đề ra phương án điều trị bệnh tiểu đường
là giảm huyết áp ở “mức độ an toàn”, và giảm nồng độ mỡ LDL (một loại “mỡ xấu”
trong máu) hay triglyceride (cũng là một loại mỡ trong máu). Theo khuyến cáo của
Liên ủy ban về pḥng chống, phát hiện, đánh giá và điều trị cao huyết áp (c̣n
gọi là JNC), mục tiêu đầu tiên trong việc điều trị bệnh nhân tiểu đường với
huyết áp tâm thu cao là giảm huyết áp xuống dưới 130 mmHg (chứ không phải như có
người hiểu lầm là giảm dưới 140 mmHg; giảm dưới 140 mmHg là cho quần thể cao
huyết áp nói chung, chứ không phải áp dụng cho bệnh nhân tiểu đường). Tuy
nhiên, chưa có bằng chứng khoa học nào để làm cơ sở cho khuyến cáo đó của JNC.
Giảm huyết áp càng thấp càng tốt?
Gần đây, một số nghiên cứu quan sát cho thấy ở những bệnh nhân tiểu đường có
huyết áp tâm thu thấp hơn 120 mmHg cũng là những người có nguy cơ mắc bệnh tim
mạch và tử vong thấp hơn những bệnh nhân có huyết áp cao hơn 120 mmHg. Câu hỏi
đặt ra là: ở bệnh nhân tiểu đường nếu giảm huyết áp tâm thu dưới 120 mmHg có đem
lại lợi ích so với giảm huyết áp dưới trong khoảng 130-140 mmHg?
Để trả lời câu hỏi đó, các nhà nghiên cứu chia 4733 bệnh nhân tiểu đường tưp 2
thành 2 nhóm: nhóm được hạ huyết áp tâm thu dưới 120 mmHg (gọi là nhóm A), và
nhóm hạ huyết áp tâm thu xuống dưới 140 mmHg (gọi là nhóm B). Thời gian theo dơi
gần 5 năm, và chỉ tiêu lâm sàng để đánh giá là các biến cố lâm sàng liên quan
đến bệnh tim mạch như nhồi máu cơ tim, đột quị, và tử vong từ các bệnh tim mạch.
Lúc mới vào công tŕnh nghiên cứu, cả 2 nhóm có huyết áp tâm thu trung b́nh
khoảng ~140 mmHg. Sau 1 năm điều trị, họ thành công giảm huyết áp trung b́nh
trong nhóm A xuống c̣n 119 mmHg (giảm 15%), và nhóm B xuống c̣n 133 mmHg (giảm
5%).
Kết quả cho thấy hai nhóm A và B không khác nhau về các biến cố tim mạch. Thậm
chí, nhóm A (điều trị tích cực) có nguy cơ tử vong c̣n cao hơn nhóm B khoảng 7%,
nhưng kết quả này không có ư nghĩa thống kê (khoảng tin cậy 95% dao động từ 0.85
đến 1.35). Có thể xem thêm kết quả trong bảng số liệu dưới đây.


Nguồn: The ACCORD Study Group. Effects
of Intensive Blood-Pressure Control in Type 2 Diabetes Mellitus. N Engl J Med
14/3/2010.
Có một điều mà các tác giả không báo
cáo bằng “ngôn ngữ relative risk” là các phản ứng (adverse events) của điều trị.
Nh́n vào bảng số 2 của nghiên cứu này, chúng ta thấy nhóm điều trị tích cực
(nhóm A) có nguy cơ “serious adverse events” (phản ứng nghiêm trọng) là 3.3%,
cao hơn 2.6 lần so với nhóm B (tỉ lệ phản ứng 1.27%). Phản ứng nghiêm trọng ở
đây là bao gồm: hạ huyết áp (hypotension; cao gấp 17 lần), ngất (cao 2.4 lần),
nhịp tim chậm (cao gấp 3.8 lần), tăng kali trong máu (cao gấp 10 lần), suy thận
(cao gấp 5 lần).
Giảm nồng độ mỡ LDL càng thấp càng tốt?
Mối liên hệ giữa mỡ LDL và bệnh tim mạch có lẽ là một trong những vấn đề y khoa
gây ra nhiều tranh căi nhất trong ṿng 40 năm qua. Như đề cập trên, bệnh nhân
tiểu đường thường có nồng độ mỡ trong máu (LDL và triglyceride) tăng cao, và
nồng độ mỡ trong máu có thể là một yếu tố nguy cơ tăng bệnh tim mạch và tử vong.
Hiện nay, statin là thuốc thông dụng để giảm mỡ LDL trong máu, và fibrate giảm
mỡ triglyceride và LDL. Ở Mĩ, rất nhiều bệnh nhân sử dụng cả hai thuốc này để
kiểm soát mỡ trong máu, nhưng chưa có bằng chứng khoa học rơ ràng về hiệu quả
của phối hợp điều trị bằng 2 thuốc. Do đó, câu hỏi nghiên cứu đặt ra là: ở bệnh
nhân tiểu đường tưp 2, điều trị phối hợp 2 loại thuốc statin và fibrate, so với
chế độ điều trị đơn với chỉ statin có giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch hay không?
Để trả lời câu hỏi đó, các nhà nghiên cứu thực hiện một nghiên cứu lâm sàng trên
5518 bệnh nhân tiểu đường tưp 2 với nguy cơ bệnh tim mạch cao, tất cả những bệnh
nhân này đang được điều trị bằng statin. Họ chia bệnh nhân thành 2 nhóm: phân
nửa được điều trị thêm với fenofibrate, một phân nửa đuợc thêm giả dược. Chỉ số
lâm sàng là tần số mắc bệnh nhồi máu cơ tim, đột quị, và tử vong từ các bệnh tim
mạch.
Sau gần 5 năm theo dơi, kết quả cho thấy so với phương án sử dụng statin đơn
thuần, phối hợp giữa fenofibrate và statin không giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim,
không giảm nguy cơ đột quị, không giảm tử vong từ các bệnh tim mạch. Các tác giả
viết thêm rằng: những kết quả này không ủng hộ việc phương pháp điều trị phối
hợp hai thuốc fenofibrate và statin để giảm nguy cơ bệnh tim mạch ở bệnh nhân
tiểu đường có nguy cơ cao.


Nguồn: The ACCORD Study Group. Effects
of Combination Lipid Therapy in Type 2 Diabetes Mellitus. N Engl J Med
14/3/2010.
Một điều thú vị là các nhà nghiên cứu
c̣n phân tích theo nhóm (gọi là subgroup analysis), Trong RCT, những phân tích
này tuy không phải là phân tích chính và ư nghĩa cũng giới hạn do kiểm định
nhiều giả thuyết (multiple tests of hypothesis), nhưng nó có thể cung cấp cho
chúng ta những thông tin mang tính “hypothesis generating” (xem biểu đồ dưới
đây). Theo phân tích này, dù bệnh nhân ở nồng độ LDL hay triglyceride nào lúc
ban đầu, th́ nguy cơ biến cố tim mạch vẫn không có ư nghĩa thống kê. Đó là chưa
nói đến ảnh hưởng của hiện tượng "regression toward the mean"!


Nguồn: The ACCORD Study Group. Effects
of Combination Lipid Therapy in Type 2 Diabetes Mellitus. N Engl J Med
14/3/2010.
Ư nghĩa của kết quả nghiên cứu là
ǵ?
Trước hết, không ai thực hiện một công tŕnh nghiên cứu với hàng trăm triệu USD
chỉ để trả lời một câu hỏi mà ai cũng biết. Bất cứ một nghiên cứu lâm sàng nào
cũng nhằm mục đích kiểm định một giả thuyết khoa học.
Không như nhiều người hiểu lầm, một
nghiên cứu lâm sàng không bao giờ có thể chứng minh một giả thuyết khoa học!
Do đó, bất cứ một công tŕnh nghiên cứu nào, diễn giải kết quả cần phải đặt
trong bối cảnh của các nghiên cứu trước, kể cả các nghiên cứu cơ bản và quan sát.
Theo tôi, những kết quả trên, khi đặt vào bối cảnh của các nghiên cứu trước, nói
lên một số điểm như sau:
Thứ nhất, những kết quả này “thách thức” tính hợp lí của khuyến cáo hiện hành
JNC-7 (giảm huyết áp tâm thu dưới
130 mmHg). Theo kết quả của nghiên cứu th́ điều trị hạ huyết áp dưới 120 (“điều
trị tích cực”) không có ích. Nhưng điều đó không có nghĩa là phương án hạ huyết
áp dưới 140 mmHg như sử dụng trong quần thể bệnh nhân cao huyết áp là có ích, bởi
v́ nghiên cứu không có nhóm chứng! Không có nhóm chứng, chúng ta khó mà kết luận
phương án nào tối ưu (cũng giống
như trường hợp tưởng tượng trong phần đầu bài viết, nếu cho phương án A, B mà
không cho thông tin phương án đối chứng C, th́ không thể so sánh được. Đó là
nguyên tắc của cái gọi là "scientific method").
Tuy nhiên, nếu tạm thời chấp nhận “phương án quần thể” (tức giảm huyết áp dưới
140 mmHg) th́ kết quả của ACCORD gợi ư định hướng đó. Trong tương lai, các
khuyến cáo về điều trị huyết áp cho bệnh nhân tiểu đường có lẽ sẽ thay đổi. Thật
ra, các chuyên gia đều đồng ư rằng những kết quả này sẽ ảnh hưởng đến phát đồ
điều trị mà liên ủy ban JNC-8 sẽ ban hành trong tương lai.
Thứ hai, nghiên cứu trên cho thấy rằng giảm mỡ LDL và giảm triglyceride có
hiệu quả như giảm mỡ LDL. Nếu dựa vào mối liên hệ giữa LDL cholesterol và tử
vong (quan sát trong nghiên cứu dịch tễ học), chúng ta ḱ vọng rằng nhóm statin
sẽ có tỉ lệ tử vong thấp hơn nhóm được điều trị bằng phối hợp 2 thuốc statin +
fenofibrate, nhưng trong thực tế th́ ngược lại: nhóm statin có tỉ lệ tử vong
(0.83%) cao hơn nhóm điều trị bằng 2 thuốc (0.72%). Phân tích theo nồng độ mỡ
LDL cho thấy không có mối liên hệ nào giữa LDL hay giảm LDL và nguy cơ tử vong
và các biến cố tim mạch.
Kết quả trên một lần nữa chất vấn giả thuyết về mối liên hệ giữa mỡ LDL và bệnh
tim mạch hay tử vong. Như nói trên, nếu mối liên hệ giữa mỡ LDL và tim mạch là
mối liên hệ nhân quả (causal relationship), th́ nhóm bệnh nhân giảm mỡ LDL càng
thấp phải có nguy cơ tử vong thấp hơn nhóm giảm mỡ LDL trung b́nh. Nhưng trong
thực tế th́ không phải như thế, mà c̣n ngược lại: giảm mỡ LDL có khi c̣n làm
tăng nguy cơ tử vong! Thật vậy, một nghiên cứu trên 10,000 bệnh nhân ở Mĩ cho
thấy sau 6 năm điều trị statin giảm gần 30% nồng độ LDL, nhưng tỉ lệ tử vong
không khác biệt so với nhóm giảm mỡ LDL chỉ 10%. Thật ra, nhóm giảm LDL nhiều
c̣n có nguy cơ ung thư cao hơn nhóm giảm LDL thấp (nhưng sự khác biệt không có ư
nghĩa lâm sàng).
Một nghiên cứu mới đây (ENHANCE) trên những bệnh nhân có nồng độ mỡ LDL cao do
di truyền cũng cho thấy nhóm được điều trị giảm mỡ LDL thấp (giảm 58%) không làm
giảm nguy cơ xơ vữa động mạch so với nhóm giảm mỡ LDL khoảng 40%. Một nghiên cứu
khác cũng ở Mĩ bị ra lệnh ngưng giữa chừng, v́ nhóm bệnh nhân giảm LDL thấp có
nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao ở mức nguy hiểm. Cần nói thêm rằng trước đây một
nghiên cứu rất qui mô ở Nhật trên 30,000 người được điều trị bằng statin cho
thấy không có một mối liên hệ nào giữa giảm mỡ LDL và nguy cơ tử vong.
Thứ ba là không thể dựa vào các chỉ số sinh hóa (như mỡ LDL, triglyceride) để
đánh giá hiệu quả của một can thiệp, mà
phải dựa vào các chỉ tiêu lâm sàng như biến cố tim mạch và tử vong do bệnh tim
mạch làm thước đo hiệu quả. Trong thuật ngữ RCT, những chỉ số sinh hóa như LDL
hay triglyceride được gọi là "surrogate outcome" (dịch nôm na là chỉ
số gián tiếp). Gián tiếp là v́ những chỉ số này có liên quan đến biến cố lâm
sàng. Nhưng v́ mối liên quan c̣n nhiều bất định, cho nên can thiệp giảm các chỉ
số này không có nghĩa là giảm biến cố lâm sàng. Do đó, không ngạc nhiên khi thấy
trong quá khứ, có nhiều nghiên cứu quan sát cho thấy cá nhân với LDL cholesterol
cao có nguy cơ tử vong v́ bệnh tim mạch tăng, nhưng điều đó không có nghĩa là
can thiệp giảm mỡ LDL sẽ dẫn đến giảm nguy cơ tử vong.
Niềm tin là chất liệu mà người ta hi vọng; bằng chứng khoa học là cái người ta
ít thấy rơ. Trong quá khứ, y khoa dựa vào niềm tin đă gây nhiều tác hại cho
người bệnh. Phải chờ đến 20 năm người ta mới thấy tác hại của thay thế hormone
mà trước đó ai cũng nghĩ có lợi cho sức khỏe phụ nữ sau măn kinh. Gần đây, một
loại thuốc phổ biến trong điều trị bệnh tiểu đường (rosiglitazone) cũng qua
nghiên cứu mới thấy có thể gây tác hại đến sức khỏe của tim. Phải chờ đến 30 năm
người ta mới biết rằng giảm LDL cholesterol có thể chẳng làm giảm nguy cơ tử
vong. Thực hành y khoa theo niềm tin và theo cảm tính cá nhân là một một hiểm
họa tiềm ẩn cho người bệnh.
Trong y khoa, rất nhiều khuyến cáo điều trị không dựa vào bằng chứng khoa
học. Chỉ có khoảng 15% đến 20%
các thuật điều trị trong y khoa là có bằng chứng khoa học; phần đa số c̣n lại
80-90% không có bằng chứng khoa học vững vàng. Một giáo sư y khoa danh tiếng
từng nói rằng phần lớn những ǵ đang được sử dụng để điều trị bệnh nói chung
chẳng khác ǵ thủ thuật của lang băm! Hơi đụng chạm, nhưng sự thật là thế. Những
kết quả những nghiên cứu trên cho thấy đối với bệnh tiểu đường, không có phương
án điều trị nào tối ưu hay tuyệt đối. Ngay cả khuyến cáo hiện hành (JNC-7) mà đa
số giới y sĩ thực hành theo cũng thiếu cơ sở khoa học. Cho đến nay, vẫn chưa có
một công tŕnh nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên nào cho thấy phương án
hiện hành là có hiệu quả.
Tuy nhiên, có bằng chứng cho thấy can thiệp vào lối sống qua chế độ ăn uống có
thể có hiệu quả hơn là dùng thuốc. Chẳng hạn như ở bệnh nhân với bệnh tim, chế
độ ăn uống với nhiều rau quả, ngũ cốc, đậu, cá, dầu olive, v.v… giảm nguy cơ tái
phát bệnh tim đến 50-70%. Ngoài ra, có nghiên cứu cho thấy chỉ cần đi bộ 2 giờ
mỗi tuần, người mắc bệnh tiểu đường có thể giảm nguy cơ tử vong 39% (trong khi
đó phải điều trị 250 bệnh nhân tiểu đường với statin để giảm 1 ca tử vong).
Khoảng 90% nguy cơ bệnh tiểu đường là do lối sống “tiêu cực”, như quá cân,
thiếu vận động thể lực, chế độ ăn uống thiếu lành mạnh, hút thuốc lá, v.v… Duy
tŕ chế độ ăn uống lành mạnh, năng vận động thể lực, bỏ hút thuốc lá là những
biện pháp hữu hiệu giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường và giảm tử vong. Do đó, bài
học sau cùng từ những kết quả nghiên cứu trên, là chúng ta nên quay về với những
biện pháp ngừa bệnh đơn giản, nằm trong khả năng của chúng ta, chứ không nên tùy
thuộc vào những phương án dùng thuốc mà bằng chứng khoa học vẫn chưa rơ ràng.
Chẳng liên quan ǵ đến Việt Nam !
Bây giờ tôi phải quay lại câu chuyện lúc đầu và báo cho các bạn một tin chẳng
mấy ǵ hay ho: tất cả những ǵ tôi bàn ở trên chẳng có liên quan ǵ đến Việt Nam
cả, và cũng chẳng có liên quan ǵ đến bạn cả (v́ bạn là người Việt Nam).
Theo nguyên lí của y học thực chứng (evidence based medicine) th́ thực hành y
khoa, kể cả điều trị bệnh, phải dựa vào bằng chứng khoa học. Bằng chứng phải đúc
kết từ những nghiên cứu lâm sàng có giá trị. Mô h́nh nghiên cứu có giá trị cao
nhất là nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên (RCT) như nghiên cứu ACCORD,
ENHANCE, HPS, v.v… bởi v́ tiêu chuẩn chọn bệnh nhân rơ ràng, v́ có phân nhóm
ngẫu nhiên hóa, v́ qui tŕnh giống nhau và trong điều kiện có kiểm soát.
Bằng chứng khoa học phải mang tính hợp lí nội tại và hợp lí ngoại tại. Ư
nghĩa của hợp lí ngoại tại ở đây là bằng chứng từ nghiên cứu trên người Âu Mĩ
chỉ có thể -- theo nguyên tắc -- áp dụng cho người Âu Mĩ, chứ không hẳn cho
người Việt. Nếu lấy tiêu chuẩn hay bằng chứng của người Âu Mĩ mà áp dụng cho
người Việt th́ có thể dẫn đến sai lầm. Sai lầm là
do môi trường sống và đặc tính sinh học (kể cả gien) rất khác biệt giữa các sắc
tộc. Có thuốc điều trị bệnh tim chẳng có hiệu quả ǵ cho người da trắng, nhưng
lại có hiệu quả cho người da đen. Bệnh tiểu đường ở VN thường thấy ở người giàu
có, c̣n ở các nước phương Tây, bệnh tiểu đường thường gặp ở người nghèo. Do
đó, trong thực tế, có nhiều người Việt bị chẩn đoán là có bệnh dựa vào tiêu
chuẩn của nước ngoài, và cho dùng thuốc đắt tiền, nhưng trong thực tế nếu dùng
chuẩn của người Việt th́ họ không phải là bệnh nhân. Tính
hợp lí ngoại tại do đó rất quan trọng. Câu hỏi đặt ra là những ǵ người ta
khuyến cáo cho bệnh nhân Âu Mĩ có thể áp dụng cho bệnh nhân Việt Nam? Muốn có
câu trả lời th́ phải làm nghiên cứu, nhưng chúng ta chưa có nghiên cứu.
Đối chiếu lại với t́nh h́nh Việt Nam th́ sao? Chúng
ta có bằng chứng nào cho thấy phương án điều trị hiện hành có hiệu quả? Chúng ta
có bằng chứng nào cho thấy statin có hiệu quả giảm nguy cơ tử vong ở bệnh nhân
người Việt? Câu trả lời đơn giản
là chưa có bằng chứng nào cả. Thật ra, chẳng riêng ǵ Việt Nam, ngay cả các nước
Á châu nghèo (ngoại trừ Nhật) cũng "dùng tạm" bằng chứng từ người khác, và làm
như là ... của ḿnh.
Tại sao chưa có bằng chứng? Chưa có bằng chứng, bởi v́ ở VN chưa ai làm nghiên
cứu RCT để đánh giá hiệu quả của các phương án điều trị hay thuốc hiện hành.
Chưa làm nghiên cứu là v́ nước ta c̣n nghèo, và VN cũng chưa có nhiều chuyên gia
kinh nghiệm về RCT. Không phải lỗi của ai cả. Có chăng là lỗi của … hệ thống. Hệ
thống là cái trừu tượng chẳng ai biết nó là cái ǵ.
Quay trở lại cái ư bất định trong phần đầu bài viết, tôi muốn thuật lại một câu
nói nổi tiếng của ông cựu khoa trưởng y khoa tại Đại học Yale rằng: phân
nửa những ǵ bác sĩ biết là sai, nhưng khổ nỗi là chúng ta không biết phân nửa
nào đúng. (Câu này ông thường nói
trong buổi lễ nhập học cho sinh viên y khoa năm thứ nhất). Mới đây, John
Ioannidis phân tích cho thấy đại đa số những ǵ công bố trên các tập san khoa
học là sai. Y khoa mang tính bất định như thế đấy. Nhưng bất định và sai lầm
trong khoa học là điểm mạnh, chứ không phải là điểm yếu của khoa học. Khoa học
phát triển từ sai lầm và tự sửa sai. Y khoa chỉ yếu khi có người nghĩ rằng y
khoa mang tính khẳng định như niềm tin tôn giáo và thực hành không dựa vào bằng
chứng.
NVT
TB. Xin nói thêm vài câu chuyện về hệ quả của thực hành không dựa vào
bằng chứng khoa học.
Chỉ vài thế hệ trước đây, ư niệm về bệnh tật rất đơn giản: bệnh nhân bị nhiễm
một độc tố nào đó, hay một nhiễm tố, hoặc trong cơ thể có quá nhiều dịch tố. Từ
ư niệm này dẫn đến một ư tưởng là muốn chữa trị những bệnh như thế, chỉ cần mở
một cái mạch và để cho các “độc tố” chảy ra ngoài: trích máu (hay tiếng Anh gọi
là blood-letting). Một khi độc tố bị thải ra ngoài cơ thể, bệnh nhân sẽ cảm thấy
khỏe khoắn hơn. Ngày nay, chúng ta biết rằng trích máu thực ra chỉ làm cho bệnh
nhân chết nhanh hơn. Một người lớn b́nh thường nếu mất đi 10% thể tích máu tuần
hoàn của toàn cơ thể là có thể có biểu hiện rối loạn tuần hoàn, và nếu mất 20%
th́ sốc giảm thể tích tuần hoàn có thể xảy ra, tính mạng có thể bị đe doạ rồi.
Tổng thống Mĩ, George Washington, bị mất hơn 2 lít máu trong ṿng hai ngày trước
khi ông chết; và ông chỉ bị đau cuống họng. Ông bị lấy máu nhiều quá. Chúng ta
biết rằng trích máu là một thuật chữa trị nguy hiểm, kết luận này nhờ vào thử
nghiệm lâm sàng của một bác sĩ người Pháp tên là Pierre Louis vào năm 1836.
Pierre Louis tiến hành một thử nghiệm mà ngày nay được xem là một thử nghiệm lâm
sàng đối chứng (RCT) đầu tiên trong thế giới y khoa.
Khoảng 20 năm trước đây, kết quả của một nghiên cứu lâm sàng “Transfusion
requirements in critical care” được công bố trên Tập san New England Journal of
Medicine cho thấy ngoại trừ các bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp tính, việc truyền
máu cho những bệnh nhân nguy kịch với một liều lượng hemoglobin trung b́nh không
làm giảm tỉ lệ tử vong, mà có thể làm tăng nguy cơ tử vong! Không ai biết tại
sao, nhưng đó là kết quả, là một thực tế. Kết quả nghiên cứu này làm chấn động
các bác sĩ chuyên ngành hồi sức trong bệnh viện thời đó.
Từ lâu, giới y tế Tây phương thường khuyên các bà mẹ nên cho trẻ em mới sinh ngủ
nằm sấp, v́ họ tin rằng cách ngủ này sẽ làm giảm xác suất trẻ em chết đột ngột
hay “đột tử”. Măi cho đến thập niên 1980s, có người đặt vấn đề là có bằng chứng
nào làm cơ sở cho lời khuyên này. Theo sau đó là một loạt nghiên cứu lâm sàng
cho thấy rơ ràng các trẻ sơ sinh nằm sấp có nguy cơ bị chết cao hơn các trẻ ngủ
nằm ngửa. Và thế là một phong trào “Back to sleep” (nằm ngửa khi ngủ) được phát
động để khuyến khích trẻ em ngủ nằm ngửa. Nếu câu hỏi trên được đặt ra vài mươi
năm trước th́ có biết bao trẻ em được cứu sống v́ đột tử.
Đầu thập niên 1980 và 1990, giới y khoa thế giới là những “cảm t́nh viên” của
một phương pháp trị liệu thay thế hormone (hormone replacement therapy, HRT),
thường được dùng để chữa trị những triệu chứng sau thời ḱ măn kinh như nóng
bừng. Thời đó, ai cũng tin rằng HRT sẽ làm cho phụ nữ trẻ trung hơn, sẽ ngăn
ngừa bệnh tim mạch và loăng xương trong những phụ nữ cao tuổi hay sau thời ḱ
măn kinh. Trong các trường y, một số giáo sư c̣n đi xa hơn, giảng dạy sinh viên
rằng vấn đề HRT chưa được dùng rộng răi trong các phụ nữ sau thời măn kinh là
một tội phạm trong ngành y! Nhưng đến năm 1998, kết quả của một nghiên cứu lâm
sàng HERS công bố cho thấy estrogen chẳng những không ngăn ngừa bệnh tim, mà c̣n
làm tăng nguy cơ bị chứng blood clot. Kết quả nghiên cứu này làm cho giới bác sĩ
lại ngẩn ngơ! Họ ngạc nhiên đến nổi không tin kết quả nghiên cứu. Mới đây, một
nghiên cứu qui mô khác cũng cho thấy HRT có thể hại nhiều hơn là lợi cho bệnh
nhân.
Những trường hợp khá điển h́nh trên đây cho thấy nhiều phương pháp trị liệu hiện
hành không có hiệu nghiệm như chúng ta tưởng. Thậm chí, trong quá tŕnh điều
trị, người thầy thuốc c̣n có thể gây tổn hại cho bệnh nhân. Nhưng đó không phải
là vấn đề, v́ chẳng có thầy thuốc nào muốn gây hại cho bệnh nhân. Vấn đề là
những quyết định của bác sĩ dựa vào kinh nghiệm quan sát lâm sàng hàng ngày
thường không có độ tin cậy cao. Thêm vào đó là phần lớn các phương pháp chữa trị
trong y học chưa bao giờ được kiểm tra, đánh giá bằng các phương pháp khoa học.
Những phương pháp này được dùng v́ bác sĩ tin rằng chúng có hiệu nghiệm, và cũng
như mọi niềm tin tôn giáo, nó không dựa vào bằng chứng khoa học.
Mỗi năm, ở Mĩ có khoảng 100 ngàn người chết v́ sai lầm y khoa. Thật ra, sai lầm
y khoa là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở Mĩ. Ở Úc, con số bệnh nhân chết v́
sai lầm y khoa là khoảng 18 ngàn người. Ở Việt Nam, bao nhiêu bệnh nhân đă bỏ
mạng v́ sai lầm y khoa? Chưa ai biết v́ chẳng ai quan tâm. Một trong những sai
lầm là do thực hành không dựa vào hay thiếu bằng chứng khoa học.