|
Giải Nobel y sinh học 2010
vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
Nguyễn Văn Tuấn
Ngày 4/10/2010, Hàn lâm viện Thụy Điển
công bố người được trao giải thưởng Nobel y sinh học (thật ra,
chính xác là sinh lí học hoặc y học), và nhà khoa học được vinh
dự này là Giáo sư Robert Geoffrey Edwards, người Anh.
Ông là người được công chúng tŕu mến gọi là “cha đẻ của kĩ
thuật thụ thai nhân tạo” (IVF), là người đem lại niềm vui
và hạnh phúc cho hàng triệu người trên thế giới. Ông
cũng là người sáng lập nên một bộ môn y học mới, dẫn đến
những nghiên cứu tế bào gốc sau này. Giải Nobel y sinh học
năm nay được trao cho một người mà công tŕnh khoa học và ảnh
hưởng của nó đúng với ước nguyện của ông Alfred Nobel, đó là
công trình khoa học mang tính ứng dụng đem lại phúc lợi
cho nhiều người. Cuộc đời và sự nghiệp của ông cũng là một bài
học cho các nhà khoa học trẻ đang muốn vươn lên.

***
Để thấy ư nghĩa và tầm quan trọng của công tŕnh nghiên cứu của
Gs Robert Edwards, chúng ta cần phải điểm qua thực trạng vô sinh
trên thế giới. Thiên chức làm mẹ, làm cha là một trong những
mục tiêu phổ quát của con người. Đại đa số những cặp vợ chồng
muốn có con, v́ ngoài ư nghĩa duy tŕ ṇi giống, sự có mặt của
con c̣n là một trong những niềm vui và hạnh phúc gia đ́nh, là
“chất keo” nối kết vợ chồng. Nhưng trong thực tế, không phải ai
cũng may mắn có khả năng có con. Thật vậy, một số nghiên cứu
cho thấy khoảng 4 đến 17% (1) cặp vợ chồng trong tình trạng
vô sinh, tức không có khả năng có con, vì rối loạn
nội tiết và các nguyên nhân khác. Dựa vào tỉ lệ này, các
nhà nghiên cứu ước tính rằng trên thế giới, có khoảng 72
triệu phụ nữ trong độ tuổi sinh sản không có khả năng mang
thai. Đối với những “bệnh nhân” này, họ phải sống trong đau khổ
và mặc cảm [có khi] trầm trọng. Do đó, một liệu pháp điều trị
vô sinh phải được xem là một đóng góp vĩ đại cho nhân loại. Sự
nghiệp và công tŕnh khoa học của Gs Robert Edwards có ư nghĩa
và tầm vóc như thế. Có thể nói không ngoa rằng ông đă gieo niềm
vui và đem lại hạnh phúc cho hàng triệu người.
Hàn
lâm viện Thụy Điển vừa công bố trao giải thưởng Nobel y sinh học
năm 2010 (trị giá 1.5 triệu USD) cho Giáo sư Robert Edwards,
thuộc trường Đại học Cambridge. Công trình mà ông được trao
giải là những nghiên cứu và phát triển thụ tinh nhân
tạo (thụ tinh trong ống nghiệm, hay còn gọi là IVF).
Trước đó gần 10 năm, năm 2001, ông được trao giải thưởng Lasker
của Mĩ. Giải Lasker được xem là giải thưởng “tiền Nobel” bởi v́
phần lớn những người được giải sau này cũng được trao giải
Nobel. Thế nhưng Gs Edwards phải chờ đến gần 10 năm để được
giải Nobel, và điều này đă làm cho nhiều người trong cuộc cao
mày ngạc nhiên, v́ đáng lẽ giải Nobel phải đến tay ông sớm hơn.
Đại học Cambridge là một đại học lừng danh thế giới, ngang
hàng với Đại học Harvard của Mĩ. Giải thưởng về tay
một nhà khoa học người Anh từ một đại học Anh một lần
nữa củng cố vị trí của nước Anh như là một cường quốc
khoa học thứ 2 (chỉ sau Mĩ) trên thế giới. Trong số 205
nhà khoa học được trao giải Nobel y sinh học (tính từ năm 1901
đến 2010), có đến 22 (11%) nhà khoa học người Anh. Đó là một tỉ
trọng cao so với dân số của Anh.

Robert
Edwards và “đứa trẻ thụ tinh trong ống nghiệm đầu tiên” Louise
Brown (thứ ba từ trái qua) cùng mẹ cô là Lesley Brown và cậu con
trai của cô Cameron hồi năm 2008 - Ảnh: AFP
Giáo sư Edwards năm nay đă 85 tuổi, và sức khỏe đang trong t́nh
trạng không tốt. Ông không thể trả lời phỏng vấn của báo chí,
nhưng qua phu nhân, ông tỏ ư hài ḷng về công tŕnh của ông sau
cùng cũng được ghi nhận. Tuy đă cao tuổi và đă nghỉ hưu, nhưng
ông vẫn c̣n rất tích cực trong khoa học. T́m trong y văn cho
thấy ông vẫn c̣n viết bài nghiên cứu và b́nh luận trên các tập
san y học măi đến … năm ngoái! Từ năm 1986, ông là tổng biên
tập tập san Human Reproduction và đă đưa tập san này từ
chỗ “vô danh” thành một tập san hàng đầu trong bộ môn như hiện
nay.
Con đường
đến thành công gian nan
Sự
nghiệp khoa học của Gs Edwards là một bài học khá độc đáo. Ông
xuất thân từ một gia đình lao động bậc trung, chứ không
phải trưởng giả. Ông khởi đầu sự học với ngành nông, chứ không
phải y học. Sau khi xong nghĩa vụ quân sự (4 năm), ông theo
học tại Đại học Wales (Bangor) và tốt nghiệp với bằng cử
nhân nông học. Nhưng sau một thời gian làm việc, ông cảm
thấy không hứng thú và cũng không hợp với nghề nông
học. Ông bắt đầu tìm một hướng đi khác, và di truyền
học là hướng ông nhắm đến.
Sau
một thời gian định hướng, ông quyết định theo học di
truyền học tại Đại học Edinburgh. Ông theo học dưới sự
hướng dẫn của Giáo sư Conrad H. Waddington và Alan Beatty,
hai nhà di truyền học nổi tiếng vào thời đó. Năm 1955,
ông hoàn tất luận án tiến sĩ về sự phát triển của phôi
thai trong chuột. Trong thời gian theo học tại Đại học
Edinburgh, ông gặp người vợ tương lai tên là Ruth Fowler, là
cháu của nhà khoa học lừng danh Ernest Rutherford (người Tân Tây
Lan). Đến năm 1956, sau khi Ruth hoàn tất luận án tiến
sĩ, hai người làm lễ thành hôn, và sau này bà là một trong
những đồng nghiệp đắc lực của ông. Sau khi xong tiến sĩ, hai vợ
chồng được một học bổng của Mĩ sang làm nghiên cứu sinh hậu
tiến sĩ (postdoc) ở CalTech (Viện Công nghệ California, hay
California Institute of Technology). Sau 1 năm làm nghiên cứu
sinh hậu tiến sĩ, hai vợ chồng quay về Anh. Về đến Anh, ông
được Hội đồng Y khoa Anh (Medical Research Council) cấp cho một
fellowship 5 năm [2]. Trong thời gian này ông làm nghiên cứu
dưới sự hướng dẫn của Giáo sư Alan Parkes, một nhà khoa học rất
nổi tiếng về di truyền học. Năm 1962, Alan Parkes được bổ nhiệm
giáo sư thực thụ tại Đại học Cambridge. Giáo sư Parkes mời
Robert Edwards về cộng tác với ông tại Cambridge. Năm 1963, ông
chuyển về làm việc tại Đại học Cambridge cho đến ngày nghỉ hưu
gần đây. Chức danh sau cùng của ông là giáo sư thực thụ.
Thật ra, Robert Edwards bắt đầu nghiên cứu vô sinh trước khi
ông về Đại học Cambridge. Sau khi đã có kinh nghiệm trên
chuột ở Đại học Edinburgh, ông bắt đầu nghiên cứu về
sinh học tái sản sinh (reproductive biology) ở người. Câu
hỏi ông đặt ra là làm cách nào để trứng và tinh trùng
có thể “hội tụ” ngoài cơ thể con người. Đó là một câu
hỏi táo bạo trong thời gian mà khoa học về tái sản sinh
vẫn chưa phát triển. Ông và cộng sự phải tiêu ra 20 năm
trời để hoàn thiện kĩ thuật thụ thai nhân tạo. Sau
thành công về kĩ thuật, ông còn phải đương đầu với
những dèm pha, phê phán, chỉ trích, thậm chí bị cô lập
từ các giới chức tôn giáo, chính trị, thậm chí từ
chính đồng nghiệp. Hành trình từ khám phá đến ứng
dụng kĩ thuật IVF của ông là một tấm gương sáng cho
giới khoa học
Bước ngoặc nghiên cứu của ông xảy ra vào năm 1963. Năm đó ông
đi dự hội nghị của Hiệp hội Y khoa Hoàng gia Anh, và ông có dịp
nghe Bác sĩ Patrick Steptoe giảng về ứng dụng kĩ thuật soi ổ
bụng (laparoscopy). Ông c̣n nhớ rằng bài giảng hết sức ấn
tượng, và ngay sau đó ông đến đặt vấn đề hợp tác với Bs Steptoe,
lúc đó đang là bác sĩ chuyên khoa phụ sản ở Bệnh viện Oldham.
Sau này, hai người trở thành một đội nghiên cứu rất nhịp nhàng
và hiệu quả. V́ từ Bệnh viện Oldham đến Đại học Cambridge tốn
đến 4 giờ lái xe, nên ông Robert Edwards quyết định lập một
pḥng thí nghiệm nhỏ bên cạnh bệnh viện để nghiên cứu. Bs
Steptoe chính là người song hành với Robert Edwards qua
các công trình dẫn đến giải Nobel. Đáng lẽ Bs Steptoe
được chia sẻ giải Nobel với Gs Edwards, nhưng rất tiếc là
Bs Steptoe đã qua đời từ năm 1988, và Hàn lâm viện Thụy
Điển không có qui chế trao giảo cho người quá cố.
Sau
nhiều năm miệt mài nghiên cứu và thất bại, đến năm 1968, Gs
Edwards đã nắm được kĩ thuật thụ tinh và “thúc ép”
chúng thành những phôi để có thể cấy vào người. Năm
1969, sau một loạt khám phá quan trọng về vai trò của
hormone trong quá trình thụ thai,
Gs Edwards đã thụ thai một trứng trong ống nghiệm, và
thành công này được xem là đột phá trong kĩ nghệ thụ
thai nhân tạo. Khám phá này công bố trên tập san Nature
[3], một tập san khoa học đứng vào hàng số 1 trên thế giới. Bài
bào này chính là bài dẫn đến giải Nobel, và cũng là
bài mở đầu cho việc phát triển kĩ thuật IVF sau này. Tính
đến nay, bài báo này đă được trích dẫn 267 lần.
Nhưng thành công đó cũng bị nhiều người chỉ trích và nghi ngờ.
Một số chuyên gia, có lẽ do ghanh tị với thành tựu của Edwards,
cho rằng thụ tinh trong ống nghiệm là giả tạo. Giới tôn giáo
th́ xem thành tựu đó là một đe dọa đến đạo đức, và thể hiện một
sự can thiệp với vai tṛ thượng đế! Ngay cả người cùng ngành
cũng nghi kị. Một người học trò của Giáo sư Robert
Edwards là Martin Johnson (nay là giáo sư y khoa tại Đại học
Cambridge) hồi tưởng rằng vào thời đó, ít ai quan tâm đến
vấn đề vô sinh và ảnh hưởng của vô sinh. Do đó, khi
thấy ông (Johnson) theo hướng nghiên cứu về vô sinh dưới
sự hướng dẫn của Giáo sư Edwards, đồng nghiệp đều thấy
tội nghiệp cho ông và họ nói rằng “Thầy ông đi sai hướng
rồi”. Ngay cả Giáo sư Max Perutz và Giáo sư James Watson
(cả hai đều được trao giải Nobel) nói với ông rằng việc
can thiệp vào phôi thai như thế là thiếu trách nhiệm.
Giáo sư Johnson kể rằng nhiều người không muốn nói
chuyện với nhóm nghiên cứu của Edwards, vì họ không
thích những gì nhóm nghiên cứu theo đuổi. Nhưng mặc cho
ai nói gì thì nói, Giáo sư Edwards và nhóm nghiên cứu
của ông vẫn kiên trì theo đuổi ý tưởng thụ sinh nhân tạo
IVF. Dưới áp lực chính trị, tôn giáo và thậm chí khoa học, Hội
đồng Nghiên cứu Y khoa cắt tài trợ. Nhưng may mắn thay,
nhờ vào tài trợ của một mạnh thường quân người Anh mà
công trình nghiên cứu được tiếp tục.
Mãi đến năm 1978 thì nghiên cứu
của Gs Edwards và Steptoe mới “đơm bông kết trái”.
Ngày 25/7/1978, bằng kĩ thuật IVF
của Edwards và Steptoe hai vợ chồng Leslie và John Brown
hạ sinh đứa con đầu lòng tên là Louise Brown. Louise Brown
đi vào lịch sử y học hiện đại như là “test tube
baby” (hàm ý nói được sinh ra từ thụ thai trong ống
nghiệm). Ngày 25/7/1978 cũng là
ngày đánh dấu một bước ngoặc quan trọng trong lịch sử y
học hiện đại, vì một bộ môn y học mới ra đời. Nhưng
“tai nạn” vẫn chưa hết! Ngay sau khi Louise Brown chào đời, Hội
đồng Nghiên cứu Y khoa lại cắt tài trợ đến 2 năm rưỡi, v́ họ sợ
áp lực của công chúng!
Tuy nhiên, trong vòng 5 năm sau ngày Louise Brown chào đời,
thế giới có thêm 150 em khác cũng được chào đời bằng
kĩ thuật IVF. Sau đó, với sự cải tiến về kĩ thuật, số bệnh
nhân vô sinh được điều trị và số trẻ em ra đời từ sự hỗ trợ của
kĩ thuật IVF gia tăng nhanh chóng. Chẳng hạn như ở Mĩ, năm 1998
có trên 61,000 trẻ em sinh ra bằng IVF, tăng gấp 30 lần só với
10 năm trước. Một sự tăng trưởng như thế cũng được ghi nhận ở
Âu châu. Tính đến nay, đã có hơn
4 triệu trẻ em trên thế giới được sinh ra bằng công nghệ
IVF.
Tuy kĩ thuật IVF càng ngày càng cải tiến tốt hơn, nhưng
tỉ lệ thành công cũng chỉ dao động trong khoảng 20-35%.
Ngoài ra, chi phí điều trị vô sinh cũng c̣n khá đắt, nhất là đối
với những nước đang phát triển. Nhiều nghiên cứu đã ước
tính rằng chi phí để thụ thai thành công và cho ra đời
một em bé bằng kĩ thuật IVF dao động trong khoảng 17,000
USD đến 56000 USD (cho phụ nữ dưới 30 tuổi). Vì tỉ lệ
thụ thai giảm theo độ tuổi, cho nên chi phí IVF ở phụ nữ
trên 40 tuổi cao gấp 3 lần so với phụ nữ dưới 40 tuổi.
Cho đến nay, ai cũng phải công nhận công nghệ IVF đã đem lại
niềm vui gia đình và hạnh phúc cho hàng triệu người trên
thế giới. Trong lịch sử y học, khó có một phương pháp
nào đem lại niềm vui và hạnh phúc cho nhiều người như
IVF. Giáo sư Robert Edwards thật xứng đáng với danh hiệu
“Cha đẻ của trẻ em ống nghiệm” (Father of the Test Tube
Baby).
Lí tưởng
Nobel
Giải Nobel được thiết lập theo di chúc của ông Alfred Nobel.
Trong di chúc, ông viết rằng giải thưởng nên trao cho “những
ai đă đem lại lợi ích lớn nhất cho con người.” Thế nhưng
trong những năm qua khi sinh học phân tử c̣n là “thời thượng”,
có nhiều nhà nghiên cứu sinh học phân tử được trao giải Nobel.
Điều này dẫn đến nghi ngờ của giới y khoa là giải thưởng này
không c̣n tuân theo hay phù hợp với ước nguyện của ông Nobel
nữa, bởi v́ nhiều công tŕnh được giải chẳng có giúp ích ǵ cho
bệnh nhân (chứ chưa nói đến “lợi ích lớn nhất”).
Nhưng năm nay, giải thưởng được trao cho một người mà công
trình nghiên cứu quả thật đem lại phúc lợi lớn nhất cho
rất nhiều người. Đối với những cặp vợ chồng vô sinh,
còn hạnh phúc nào lớn hơn là hạnh phúc có con và được
làm cha, làm mẹ. Kĩ thuật (và bây giờ là công nghệ) IVF
là một trong những cuộc cách mạng quan trọng nhất trong
y học hiện đại. Do đó, giải thưởng năm nay đã đúng với
tinh thần của di chúc Nobel. Như một bài báo trên tập
san Nature viết rằng rất ít nhà khoa học nào có
thể nói rằng trên thế giới có 4 triệu người ra đời và
sống sót nhờ vào nghiên cứu của mình, nhưng Giáo sư
Edwards là một người có cơ sở để nói như thế (nếu ông
muốn).
Vài bài
học
Giải thưởng Nobel y sinh học 2010 cũng có vài ý nghĩa và
bài học liên quan đến sự thành công, phân biệt nghiên cứu và
khoa học Việt Nam. Trong khoa học, có hai con đường chính dẫn
đến thành công. Thứ nhất là chọn một đề tài lớn và phức tạp để
giải quyết. Thứ hai là từng bước xây dựng những giả thuyết, và
dần dần h́nh thành một đề tài lớn. Cố nhiên, còn có một con
đường thứ ba là do … may mắn, nhưng tôi không bàn ở đây. Có thể
nói sự thành công của Gs Robert Edwards là nhờ vào lựa chọn
hướng đi thứ hai. Ông đă kiên tŕ theo đuổi đề tài, từng bước
giải quyết các vấn đề kĩ thuật, kiên nhẫn chịu đựng những chỉ
trích phi lí của giới “đạo cao chức trọng”, những ghanh tị nhỏ
nhen của đồng nghiệp để tập trung vào “bức tranh lớn”. Trong
bài nói chuyện nhân dịp nhận giải Lasker năm 2001, ông thuật lại
những chỉ trích mà ông và đồng nghiệp phải hứng chịu khi dự án
nghiên cứu đang tiến triển tốt, nhưng ông vẫn b́nh thản như ...
thiền. Ai chỉ trích cứ chỉ trích, ông vẫn theo đuổi mục tiêu cho
đến cùng.
Vấn đề phân biệt giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng.
Những công tŕnh của Gs Edwards là những minh chứng cho vấn đề
phân biệt nghiên cứu cơ bản và ứng dụng, bởi v́ lằn ranh giữa
hai thể loại nghiên cứu này rất mong manh và không rơ ràng như
nhiều người tưởng. Có lẽ những nghiên cứu này được xếp vào nhóm
“translation research”, tức những nghiên cứu có ứng dụng tuy có
yếu tố cơ bản những có thể trực tiếp chuyển giao cho ứng dụng
lâm sàng.
Liên quan đến nghiên cứu tế bào gốc, những công trình nghiên
cứu tiên phong của Gs Edwards cũng làm nền tảng cho sự ra
đời của lĩnh vực nghiên cứu tế bào gốc. Do đó, có
nhiều người vui mừng cho rằng việc Hàn lâm viện Thụy
Điển trao giải cho Gs Edwards là một cách gián tiếp công
nhận giá trị của nghiên cứu tế bào gốc. Tuy nhiên,
người phát ngôn của Hàn lâm viện Thụy Điển nói rõ rằng
việc trao giải cho công trình nghiên cứu về IVF không đồng
nghĩa với việc ủng hộ nghiên cứu về tế bào gốc.
Trong vài năm gần đây, có người đặt câu hỏi bao giờ Việt Nam có
giải Nobel. Tôi nghĩ nền khoa học của Việt Nam xuất phát từ một
điểm quá thấp, gần với con số không, nên câu hỏi không cần đặt
ra hiện nay. Thật ra, ngay cả sự hiện diện của người Á châu
trong các giải thưởng Nobel c̣n rất ư là khiêm tốn. Trong ba
quốc gia có người đă từng đoạt các giải này, Nhật có số lượng
hùng hậu nhất, kế đến là Trung Quốc, Ấn Độ và Pakistan. Tuy
nhiên, hầu hết những nhà khoa học này thường làm việc ở Mĩ hay
Âu châu. Vấn đề là xây dựng từ nền móng, từ cái căn bản nhất
trong hoạt động khoa học. Đó là hệ thống tổ chức gọn nhẹ, tài
trợ cho nghiên cứu sao cho công bằng, nuôi dưỡng nhân tài, và
nhất là tạo ra được một văn hóa khoa học và tự do học thuật.
Nói
tóm lại, giải thưởng Nobel y sinh học năm nay thể hiện một sự
ghi nhận đóng góp mang tính cách mạng của Gs Robert Edwards. Sự
nghiệp khoa học và hành tŕnh ông đến với kĩ thuật IVF đem lại
hành phúc cho hàng triệu người trên thế giới là những bài học
quí báu cho những ai đang theo đuổi lí tưởng đem lại phúc lợi
lớn nhất cho con người.
Tài liệu
tham khảo:
[1] Boivin J,
et al. International estimates of infertility prevalence and
treatment seeking: potential need and demand for infertility
medical care. Hum Reprod 2007; Jun;22(6):1506-12.
[2] Austin CR. Bob Edwards – a profile.
Hum Prod 1991; 6:1-4.
[3] Edwards RG,
Bavister BD, Steptoe PC. Early stages of fertilization in
vitro of human oocytes matured in vitro. Nature 1969;
Feb 15;221(5181):632-5.
|