|
Nhân vụ mạ lị cá nhân của ông
Nguyễn Văn Dũng đến tác giả Nguyễn Văn Tuấn và Lê Đ́nh Phương
gần đây, chúng tôi xin đăng lại bài viết của Bàn Tân Định và
ngụy biện để bạn đọc tham khảo về văn hóa tranh luận.
Ykhoanet.com
Văn hóa tranh luận và vấn đề ngụy biện
Bàn Tân Định
Tranh luận trên
các diễn đàn công cộng là một h́nh thức trao đổi ư kiến không
thể thiếu được trong các thể chế dân chủ và văn minh. Ở nhiều
nước Tây phương, lưu lượng của những tranh luận cởi mở và nghiêm
túc được xem là một dấu hiệu của một xă hội lành mạnh. Nhưng thế
nào là tranh luận nghiêm túc? Nói một cách ngắn gọn, cũng như
trong một cuộc đấu vơ, một tranh luận nghiêm túc là một cuộc
tranh luận có qui tắc hẳn hoi, mà trong đó người tham gia không
được, hay cần phải tránh, phạm luật chơi. Những qui tắc chung và
căn bản là người tham gia chỉ phát biểu bằng cách vận dụng những
lí lẽ logic, với thái độ thành thật và cởi mở, chứ không phát
biểu theo cảm tính, lười biếng, hay biểu hiện một sự thiển cận,
đầu óc hẹp ḥi. Để đạt những yêu cầu này, người tranh luận
nghiêm túc trước khi phát biểu hay đề xuất ư kiến, đưa ra lời
b́nh phẩm của ḿnh, cần phải xem xét tất cả các trường hợp khả
dĩ, phải cân nhắc những quan điểm và những cách giải thích khác
nhau, phải đánh giá ảnh hưởng của sự chủ quan và cảm tính, phải
chú tâm vào việc t́m sự thật hơn là muốn ḿnh đúng, sẵn sàng
chấp nhận những quan điểm không được nhiều người ưa chuộng, và
phải ư thức được định kiến và chủ quan của chính ḿnh. Khi tranh
luận phải nhất quán là chỉ xoay quanh chủ đề bàn luận, luận điểm
bàn luận chứ không đi lạc đề. Không nhằm vào cá nhân và bản thân
của người tham gia tranh luận.
Đó là những đ̣i
hỏi khó khăn cho một cuộc tranh luận nghiêm túc có ư nghĩa, và
không phải ai cũng có khả năng đạt được những yêu cầu này. Thành
ra, không mấy ai ngạc nhiên khi thấy có quá nhiều trường hợp
chất lượng của cuộc tranh luận rất thấp. Chỉ cần xem qua những
lần tranh luận trên các đài truyền h́nh (ở Úc chẳng hạn), người
ta có thể thấy đó không phải là tranh luận, mà là những cuộc
đụng độ giũa các cá nhân tham gia tranh luận (nhất là các quan
chức) thay v́ đương đầu với lí luận của người tranh luận. Ngoài
ra, đối với một số lớn chính trị gia, nghệ sĩ, và khoa học gia,
được xuất hiện trên ti-vi để b́nh luận về một câu chuyện nào đó
là một cuộc dàn xếp, một lần đóng kịch không hơn không kém. Nó
là một kịch bản ngớ ngẩn đă được dàn xếp sẵn. Ngớ ngẩn là v́
người xuất hiện chẳng nói được ǵ cho đầy đủ, mà cũng chẳng phân
tích một vấn đề ǵ cho đến nơi đến chốn. Thực ra, họ xuất hiện
để được ghi nhận, để được [nói theo tiếng Anh] là “to be seen”.
Đối với các chính trị gia, nghệ sĩ, và khoa học gia loại này,
“to be seen” là một phương tiện sống c̣n của họ trong xă hội, là
một cách nói “Tôi vẫn c̣n đây”. Điều này có nghĩa là càng xuất
hiện nhiều trên ti-vi nhiều chừng nào càng đem lại lợi ích cá
nhân cho họ. Thành ra, ti-vi ngày nay đă trở thành một tấm gương
cho những anh chàng bảnh trai Narcissus hiện đại phô bày bộ mặt
của họ, chứ không cống hiến ǵ nhiều cho một xă hội dân chủ.
Mà cũng chẳng
riêng ǵ ở Úc, t́nh trạng nghèo nàn về tranh luận này đă và đang
xảy ra ở Âu châu. Trong mấy tháng gần đây, giới khoa học Âu châu
đang lên cơn sốt “Holocaust” (cuộc tàn sát người Do thái, trước
và trong thế chiến thứ II). Bất cứ một nhà khoa học nào, nghệ sĩ
nào dám chất vấn những quan điểm “chính thống” về thực phẩm, về
bệnh AIDS, về cuộc xung đột ở Kosovo, về sự kiện hôm 11/9 ở Mĩ,
hay về môi trường đều bị dán cho một nhăn hiệu là bạn của Nazi.
Giáo sư Bjorn Lomborg mới lên tiếng chất vấn những con số thống
kê về môi trường liền bị gắn cho nhăn hiệu “giống như Nazi”.
Những ai dám chất vấn mối liên hệ giữa vi khuẩn HIV và bệnh AIDS
liền bị tố cáo là “muốn cho thế giới này có một Holocaust thứ
hai”. Thật vậy, ở Âu châu ngày nay xuất hiện một xu hướng mà
những quan điểm đă được xem là “chính thống” th́ không ai được
chất vấn. Cái xu hướng này nó đang ăn sâu vào xă hội và giới
truyền thông đến nổi một nhà trí thức Anh phải than phiền là nếu
không ngăn chận, nó có cơ đem xă hội Âu châu quay trở lại thời
Trung cổ, thời mà không ai dám chất vấn những ǵ Vatican phán.
Trong cộng đồng
người Việt, vấn đề này c̣n nghiêm trọng hơn. Rất nhiều trường
hợp, những cuộc tranh luận trong cộng đồng đă trở thành những
cuộc chửi lộn, mà trong đó người tham gia tha hồ vung vít, ném
liệng vốn liếng chữ nghĩa qua lại một cách hỗn độn, mà chẳng cần
để ư đến logic hay các nguyên tắc của tranh luận là ǵ. Hơn nữa,
rất dễ dàng nhận thấy rằng trong các cuộc tranh luận đó người
ta nhắm vào mục tiêu là bản thân, cá nhân của người tranh luận
chứ không nhắm vào quan điểm và lí lẽ của người đó. Một đơn
cử, mới đây, những bài viết liên quan đến biên giới, thay v́ bàn
luận thẳng vào vấn đề, người ta có khuynh hướng công kích vào cá
nhân người viết. Những danh từ, tính từ hết sức vô văn hóa được
mang ra dùng cho tác giả. Thay v́ dùng những chữ như Holocaust,
Nazi, người Việt có những cụm từ đánh vào chỗ nhạy cảm của quần
chúng. Trong hầu như những tranh luận liên quan đến Việt Nam,
nhiều người cố t́m hay tạo cho ḿnh một vị trí đạo đức cao cả
bằng cách gắn cho đối phương một trong hai cụm từ trên, một thủ
đoạn có khả năng làm cho một cuộc tranh luận trở nên một cuộc ẩu
đă ngôn từ đinh tai nhức óc. Tại sao anh dám nói chúng tôi sai?
Anh là một tên phản bội dân tộc. Tức là, thay v́ tranh luận
thẳng vào vấn đề, người ta t́m cách gắn cho đối phương một nhăn
hiệu, và từ đó làm lu mờ đi quan điểm của họ.
Thực ra, đó là
một h́nh thức ngụy biện, một lỗi lầm cơ bản nhưng nghiêm trọng
trong tranh luận. Nói một cách đơn giản, ngụy biện là những nhầm
lẫn trong lí luận và suy luận. Ngụy biện khác với logic.
Logic, nói một cách ngắn gọn trong trường hợp này, là những luật
lệ hay qui tắc quản lí tính nhất quán trong việc sử dụng ngôn
ngữ. Từ nhiều thế kỉ qua, giới triết học Tây phương đă bỏ khá
nhiều công sức để phân biệt thế nào là logic và thế nào là ngụy
biện. Aristotle là một nhà logic học đầu tiên có công phát triển
các qui tắc và hệ thống suy luận. Trong quá tŕnh làm việc, ông
phát hiện ra nhiều lỗi lầm mà sau này người ta quen gọi là những
“ngụy biện.” Mặc dù Aristotle là một nhà nhà logic học đầu tiên
có công liệt kê và phân loại những loại ngụy biện, thầy của ông
(Plato) mới xứng đáng được vinh danh như là một nhà triết học
đầu tiên đă có công sưu tầm những ví dụ về ngụy biện. Kể từ khi
Plato và Aristotle, đă có khá nhiều nhà triết học và logic học
như John Locke, John Stuart Mill, Jeremy Bentham, và Arthur
Schopenhauer cũng có nhiều cống hiến quan trọng trong việc
nghiên cứu về ngụy biện.
Thực ra, nhận
dạng ngụy biện không phải là một việc làm khó khăn. Nói chung
chỉ với một lương năng b́nh dân, người ta có thể phân biệt một
phát biểu mang tính ngụy biện với một phát biểu logic. Tuy
nhiên, cũng có nhiều dạng thức ngụy biện mà vẻ bề ngoài hay mới
nghe qua th́ rất logic, nhưng thực chất là phi logic. Những loại
ngụy biện núp dưới h́nh thức “khoa học” này không dễ nhận dạng
nếu người đối thoại thiếu kiến thức về logic học hay thờ ơ với
lí lẽ. Do đó, một điều quan trọng trong tranh luận là cần phải
phát hiện và nhận dạng những h́nh thức ngụy biện, và quan trọng
hơn, cần phải hiểu tại sao chúng sai. Có thể phân loại ngụy biện
thành nhiều nhóm khác nhau liên quan đến việc đánh lạc vấn đề,
lợi dụng cảm tính, thay đổi chủ đề, nhầm lẫn trong thuật qui
nạp, lí luận nhập nhằng, phi logic, và sai phạm trù. Trong khuôn
khổ giới hạn của bài viết, người viết bài này không có tham vọng
tŕnh bày tất cả những loại ngụy biện một cách chi tiết (v́ việc
này đă được hệ thống hóa trong nhiều sách về logic học), mà chỉ
muốn liệt kê ra những loại ngụy biện thường hay gặp trong báo
chí và truyền thông, hầu giúp bạn đọc có thể nhận dạng ra
chân-giả.
Nhóm 1. Thay đổi chủ đề
1. Công kích cá nhân (ad
hominem). Đây là một loại ngụy biện phổ biến nhất, nguy hiểm
nhất, và có “công hiệu” nhất, v́ nó tấn công vào cá nhân của
người tranh luận, và t́m cách trốn tránh luận điểm của cá nhân
đó. H́nh thức ngụy biện này thường xuất hiện dưới dạng: Ông A
phát biểu về một vấn đề; ông B tấn công vào cá nhân ông A, và
làm cho người ta nghi ngờ luận điểm của ông A. Tuy nhiên, có thể
không có mối liên hệ nào giữa cá nhân và luận điểm của ông A.
Có hai h́nh thức thuộc loại ngụy
biện này. Thứ nhất là dưới h́nh thức sỉ nhục, hay chửi rủa. Khi
bất đồng ư kiến, người ngụy biện chỉ việc công kích vào cá nhân
của người phát biểu. Chẳng hạn như “Ông nói là những người vô
thần có đạo đức, vậy mà chính ông là người từng li dị với vợ
con,” hay “Ông ta đang làm ăn với phía Việt Nam, tất nhiên ông
ta phải nói tốt về Việt Nam”. Đây là một ngụy biện, bởi v́ sự
thật của phát biểu không tùy thuộc vào cá nhân của người phát
biểu mà là logic của lời phát biểu. Một cách ngụy biện khác cũng
dựa vào cách nói này là dùng một nhân vật khác, chẳng hạn như
“Vậy th́ chúng ta hăy đóng cửa nhà thờ cả đi. Hitler đă chắc hẳn
sẽ đồng ư với anh.”
H́nh thức ngụy biện thứ hai trong
loại này là người ngụy biện cố gắng thuyết phục người đối thoại
chấp nhận luận điểm của họ bằng cách đề cập đến hoàn cảnh của cá
nhân đó. Ví dụ: “Anh nói là không nên uống rượu, vậy mà anh đă
từng ngất ngưởng cả năm qua.”
Cũng nằm trong loại ngụy biện này
là thói dùng một đặc điểm của một vật thể nào đó để ứng dụng cho
một cá nhân hay một vật thể khác. Ví dụ: “Anh theo học trong một
trường dành cho con nhà giàu. Do đó, anh là một người giàu có,
anh không hiểu ǵ về sự nghèo khổ.”
2. Lợi dụng quyền lực (ad
verecundiam). Đây là loại ngụy biện dùng những nhân vật nổi
tiếng hay được nhiều người ái mộ để t́m sự ủng hộ cho luận điểm
của ḿnh. Chẳng hạn như “Isaac Newton là một thiên tài, và ông
tin vào Thượng đế.” Đây không hẳn là một lí lẽ hư, nó có thể có
liên hệ đến một nhân vật có uy tín trong một lĩnh vực nào đó,
nếu người ta thảo luận về lĩnh vực đó. Chẳng hạn như phải phân
biệt giữa hai phát biểu “Ông Hawking (Stephen Hawking, nhà Vật
lí Lí thuyết đương đại nổi tiếng người Anh) kết luận rằng những
lỗ đen (black holes) có thể phát ra phóng xạ”, và “Ông Penrose
cho rằng xây dựng một cái máy điện toán thông minh là một điều
có thể làm được.” Nếu ông Hawking là một nhà vật lí th́ chúng ta
có thể tin vào ư kiến của ông về những lỗ đen. Nhưng nếu ông
Penrose là một nhà toán học, th́ chúng ta có quyền chất vấn ông
ta có đủ thẩm quyền để bàn về đề tài thông minh nhân tạo hay
không?
3. Lợi dụng quyền lực nặc danh.
Trong trường hợp này, người ngụy biện không nêu danh tính người
có thẩm quyền, và v́ không ai biết tên người có thẩm quyền nên
không ai có thể kiểm chứng sự chính xác của lời phát biểu. Một
loại ngụy biện khác có quan hệ với loại này là dùng lời đồn đại
để làm cơ sở lập luận. Ví dụ như “Một viên chức t́nh báo trong
chính phủ Úc cho rằng chính anh từng hoạt động cho địch.”
4. Lợi dụng tác phong. Loại
ngụy biện này dùng tác phong hay cách làm việc hay một đặc tính
nào đó của đối tượng để cố thuyết phục về sự hợp lí của phát
biểu. Tiêu biểu cho loại ngụy biện này là những phát biểu như
“Nixon thất cử v́ ông ta thường hay ra mồ hôi trên trán,” hay
“Tại sao anh không nghe theo lời khuyên của anh chàng ăn mặc
bảnh bao đó?” Thực ra, “bảnh bao” và “mồ hôi trên trán” chẳng có
dính dáng ǵ đến vấn đề đang bàn thảo.
5. Luận điệu cá trích. Loại
ngụy biện này thường hay được ứng dụng khi một người nào đó đưa
vào những phát biểu không dính dáng ǵ đến vấn đề đang tranh
luận, nhằm mục đích đánh lạc hướng vấn đề. Ví dụ: “Anh có thể
nói rằng tử h́nh là một h́nh thức không có hiệu quả trong việc
chống lại tội phạm, nhưng c̣n nạn nhân của tội phạm th́ sao? Gia
đ́nh của nạn nhân sẽ nghĩ ǵ khi họ thấy tên sát nhân người thân
của họ bị giam giữ trong nhà tù bằng đồng tiền của chính họ. Họ
có nên nuôi dưỡng những tên sát nhân như thế không?”
6. Luận điệu ngược ngạo.
Bằng chứng luôn luôn là gánh nặng của người phát biểu. Do đó,
t́m cách di chuyển gánh nặng đó cho một người khác là một thủ
thuật giới ngụy biện hay dùng. Chẳng hạn như trong câu này “Được
rồi, vậy anh không tin là có người ngoài hành tinh đă từng chi
phối đến chính phủ Mỹ, nhưng anh có thể chứng minh điều đó
không,” đáng lẽ người phát biểu phải chứng minh, nhưng công việc
đó lại được chuyển cho người đối thoại!
Nhóm 2. Lợi dụng cảm tính và
đám đông
7. Dựa vào bạo lực (ad
baculum). Ngụy biện dựa vào bạo lực thực chất là một sự đe dọa,
nhằm mục đích gây áp lực cho người đối thoại phải chấp nhận một
kết luận nào đó. Loại ngụy biện này thưởng được giới chính khách
dùng, và có thể tóm gọn bằng một câu “chân lí thuộc về kẻ mạnh”.
Sự đe dọa không hẳn chỉ xuất phát từ người phát biểu, mà có thể
từ một người khác. Ví dụ như “Những ai không tin vào Kinh thánh
sẽ bị thiêu cháy dưới đáy địa ngục”, hay “Thôi được rồi, tôi đă
biết số điện thoại của anh và biết anh đang ở đâu. À, tôi có nói
cho anh biết là tôi có giấy phép mang súng chưa nhỉ?”
8. Lợi dụng ḷng thương hại
(ad misericordiam). Đây là một loại ngụy biện dựa vào ḷng trắc
ẩn của người đối thoại để người đối thoại chấp nhận lí lẽ của
ḿnh. Ví dụ như “Anh ấy không có giết người bằng búa. Làm ơn
đừng tuyên án anh ấy có tội, anh ấy đang trải qua một giai đoạn
khủng hoảng tinh thần,” hay “Tôi hi vọng anh sẽ chấp nhận đề
nghị này, chúng ta đă tiêu ra ba tháng nay rồi đấy.”
9. Lợi dụng hậu quả (ad
consequentiam). Ngụy biện loại này thường được biểu hiện qua
cách phát biểu “A hàm ư B, B là sự thật, do đó A là sự thật”. Ví
dụ: “Nếu vũ trụ được một đấng chí tôn thượng đế tạo nên, chúng
ta có thể thấy những hiện tượng được tổ chức một cách thứ tự. Và
hiện tượng chung quanh chúng ta quả rất thứ tự, vậy đấng chí tôn
thượng đế chính là người tạo nên vũ trụ,” hay “Anh phải tin vào
Thượng đế, chứ nếu không cuộc đời này sẽ chẳng có ư nghĩa” (hay
là nói một cách ngược lại: cuộc sống này chẳng có ư nghĩa ǵ nếu
Thượng đế hiện hữu!)
10. Lạm dụng chữ nghĩa. Đây
là một loại ngụy biện dựa vào dùng những chữ mang cảm tính cao
để gắn một giá trị đạo đức vào một đề nghị hay một câu phát
biểu. Chẳng hạn như trong câu “Bất cứ một người có lương tri nào
cũng phải đồng ư rằng về Việt Nam ăn Tết là làm lợi cho cộng
sản,” chữ “lương tri” được cài vào nhằm cho người đối thoại phải
nghiêng theo những người có lương tri.
11. Dựa vào quần chúng (ad
numerum). Loại ngụy biện này tin rằng nếu có nhiều người ủng hộ
một đề nghị nào đó, th́ đề nghị đó phải đúng. Ví dụ như “Đại đa
số người dân trong cộng đồng ủng hộ ông Minh, vậy phát biểu của
ông Minh ắt phải đúng.” Liên hệ với loại ngụy biện này là h́nh
thức tranh thủ sự ủng hộ của đám đông để cố gắng cho thấy luận
điểm của ḿnh là đúng. Ví dụ: “Ai cũng biết Bộ Y tế làm là đúng,
sao anh dám nói là sai? Hay là anh muốn nói chúng tôi là những
kẻ ngu xuẩn?”
Nhóm 3. Làm lạc hướng vấn đề
12. Lí lẽ chẻ đôi. Loại
ngụy biện này thường phân định một vấn đề thành hai giá trị:
trắng và đen, bạn và thù, có và không, v.v.. dù trong thực tế,
có hơn hai lựa chọn. Chẳng hạn như “Hoặc là anh hợp tác với tôi
hay là anh chống tôi, anh chọn hướng nào, yes hay là no?”, hay
“Đối với Mỹ, anh chỉ có hai lựa chọn: thương hay ghét, trả lời
đi!”
13. Lí lẽ ngờ nghệch (ad
ignorantiam). Loại ngụy biện này, như tên gọi ám chỉ, xuất phát
từ sự ngờ nghệch. Một trong những cách nói thông thường nhất
trong loại ngụy biện này mà giới ngụy biện dùng là nếu một điều
ǵ đó chưa được chứng minh là sai (hay giả) th́ điều đó là đúng
(hay thật). Ví dụ: “Bởi v́ các nhà khoa học chưa chứng minh
dioxin có thể gây ra dị thai, do đó dioxin không thể gây ra dị
thai,” hay kiểu lí luận của John Howard “Hiến pháp Úc đă tồn tại
cả trăm năm nay, và xă hội ổn định, không có lí do ǵ phải thay
đổi hiến pháp”.
14. Lí luận lươn trạch.
Loại ngụy biện này cho rằng nếu một sự kiện xảy ra, các sự kiện
có hại khác sẽ xảy ra. Chẳng hạn như “Nếu chúng ta hợp pháp hóa
marijuana, công chúng sẽ bắt đầu hút á phiện, và chúng ta cũng
sẽ phải hợp pháp hóa á phiện. Rồi chúng ta sẽ là một quốc gia
với những người ăn bám vào xă hội. Do đó, chúng ta không thể hợp
pháp hóa á marijuana”. Hay một đoạn ví dụ khác:” Tiếc thay một
cuộc cải cách về kinh tế, b́nh bị, tài chánh, xă hội, nông
nghiệp như vậy, đang trên đường thành công rực rỡ: bị tan vỡ, bị
huỷ bỏ chỉ v́ tham vọng đánh Đại việt của Vương An Thạch. Mà đau
đớn biết bao, khi người phá vỡ chỉ là một thiếu phụ Việt ở tuổi
ba mươi. Giá như Thạch không chủ trương Nam xâm, chỉ cần mười
năm nữa, toàn bộ xă hội Trung quốc thay đổi; rồi với cái đà đó,
th́ Trung quốc sẽ là nước hùng mạnh vô song, e rằng cứ muôn đời
mặt trời vẫn nở phương Đông chứ không ngả về Tây như hồi thế kỷ
18 cho đến nay bao giờ.”
15. Mệnh đề rời rạc. Đây là
loại ngụy biện dùng hai (hay nhiều hơn hai) mệnh đề chẳng dính
dáng ǵ với nhau để làm thành một phát biểu hay kết luận. Ví dụ:
“Anh ủng hộ tự do dân chủ và quyền mang vũ khí hay không?” hay
“Anh đă ngưng làm ăn trái phép chưa?” Câu hỏi sau thực ra hỏi
hai vấn đề “Anh từng làm ăn trái phép?” và “Anh đă ngừng hoạt
động hay chưa?”
16. Đơn giản hóa vấn đề.
Đây là một loại ngụy biện mà người phát biểu cố t́nh biến một
quan niệm trừu tượng thành một điều cụ thể để bắt lấy thế thượng
phong trong đối thoại (nhưng là ngụy biện). Ví dụ: “Tôi để ư
thấy anh mô tả ông ta là một người quỉ quyệt. Vậy tôi hỏi anh
cái “quỉ quyệt” đó nó nằm ở đâu trong bộ năo? Anh không chỉ ra
được cho tôi; do đó, tôi có thể nói cái quỉ quyệt không có
thực.”
Nhóm 4. Qui nạp sai
17. Khái quát hóa vội vă.
Loại ngụy biện này cũng khá phổ biến. Nó dùng một ví dụ hay
trường hợp nhỏ và từ đó khái quát hóa cho một cộng đồng. Chẳng
hạn như “Jim Baker là một tay đạo đức giả. Do đó, các tín đồ Cơ
đốc giáo là giả dối.”
18. Khái quát hóa không đúng
chỗ. Đây là loại ngụy biện mà người sử dụng chúng thường áp
dụng một qui luật chung cho một t́nh huống hay một cá nhân.
Chẳng hạn như “Người Phật giáo là vô thần. Anh là phật tử, vậy
anh chắc chắn là một người vô thần.”
19. Kéo dài tính tương đồng.
Trong loại ngụy biện này, người dùng nó đề nghị một điều lệ
chung chung, rồi ứng dụng nó cho mọi trường hợp và cá nhân. Ví
dụ: “Tôi tin rằng chống luật pháp bằng cách phạm luật pháp là
một điều sai trái”, hay “Nhưng quan điểm đó ghê tởm lắm, v́ nó
ám chỉ rằng anh sẽ không ủng hộ Martin Luther King,” hay “Anh
muốn nói rằng luật về mật mă cũng có tầm quan trọng tương đương
với phong trào giải phóng người da đen hay sao? Sao anh dám nói
thế?”
20. Lí lẽ quanh co. Loại
ngụy biện này thường lẩn quẩn trong vài giả định và kết luận.
Chẳng hạn như “Những người đồng tính luyến ái nhất định không
thể nắm chính quyền. Do đó, phải tống khứ những viên chức chính
phủ đồng tính luyến ái. V́ thế, những người đồng tính luyến ái
sẽ làm mọi cách để dấu diếm hành tung của họ, và họ có nguy cơ
bị tống tiền. Do vậy, những người đồng tính luyến ái không được
giữa chức vụ ǵ trong chính phủ.” Tức là trong một lí giải như
thế, cả hai giả thuyết và kết luận đều giống nhau.
21. Đảo ngược điều kiện.
Loại ngụy biện này thường được biểu hiện qua h́nh thức “Nếu A
xảy ra th́ B sẽ xảy ra, do đó, nếu B xảy ra th́ A sẽ xảy ra.” Ví
dụ: “Nếu tiêu chuẩn giáo dục bị hạ thấp, chất lượng tranh luận
sẽ bị tồi đi. Do đó, nếu chúng ta thấy chất lượng tranh luận suy
đồi trong những năm sắp đến, th́ điều đó cho thấy tiêu chuẩn
giáo dục của ta bị xuống cấp.”
22. Lợi dụng rủi ro. Ngụy
biện này thường dùng một qui luật chung và áp dụng nó cho một
trường hợp cá biệt. Ví dụ: “Luật giao thông không cho anh chạy
quá 50 km/h. Cho dù cha anh sắp chết anh cũng không được chạy
quá tốc độ đó.”
23. Lợi dụng trường hợp cá biệt.
Ngụy biện này thường dùng một trường hợp cá biệt để đem ra ứng
dụng cho một đám đông. Ví dụ: “Chúng ta cho phép bệnh nhân sắp
chết dùng á phiện, chúng ta nên cho phép mọi người dùng á
phiện.”
24. Kết luận lạc đề. Loại
ngụy biện này thường xuất hiện khi một kết luận chẳng dính dáng
ǵ đến lí lẽ mà người biện luận tŕnh bày. Một ví dụ tiêu biểu
cho trường hợp ngụy biện này là: “Độ nhiễm arsenic trong nước ở
Việt Nam chưa cao và c̣n trong mức độ cho phép. Dữ kiện của
Bangladesh cho thấy t́nh trạng nhiễm arsenic ở Việt Nam rất trầm
trọng.”
25. Ngụy biện rơm. Loại ngụy biện
này cố t́nh xuyên tạc, bóp méo quan điểm hay phát biểu của người
khác, để làm luận điểm tấn công. Đây là một ngụy biện, v́ nó
không đương đầu với cái lí lẽ đang bàn. Chẳng hạn như: “Chúng ta
nên ủng hộ chế độ cưỡng bách quân dịch. Người ta không thích
ṭng quân v́ họ không muốn cuộc sống bị đảo lộn. Nhưng họ cần
nhận thức rằng có nhiều điều quan trọng hơn tiện nghi trong cuộc
sống.”
Nhóm 5. Nguyên nhân giả
26. “Post hoc”. Loại ngụy
biện này phát biểu rằng hai sự kiện xảy ra, một trước và một
sau, có quan hệ với nhau như nguyên nhân và hậu quả. Ví dụ:
“Liên Xô sụp đổ sau khi nhà nước theo chủ nghĩa vô thần. Do đó,
chúng ta phải từ bỏ chủ nghĩa vô thần để khỏi bị suy sụp.”
27. Ảnh hưởng liên đới. Một
sự kiện được cho là có ảnh hưởng đến một sự kiện khác, nhưng
thực chất th́ cả hai sự kiện đều có cùng một nguyên nhân. Đây
cũng chính là một trường hợp ngụy biện dưới dạng “post hoc”. Ví
dụ: “Chúng ta đang chứng kiến một t́nh trạng thất nghiệp rất
cao, v́ do thiếu nhu cầu của người tiêu thụ.” (Nhưng có thể cả
hai sự kiện có nguyên nhân từ tiền lời quá cao.)
28. Ảnh hưởng không đáng kể.
Đây là một loại ngụy biện mang tính phóng đại từ một ảnh hưởng
rất nhỏ. Chẳng hạn như “Hút thuốc gây ra ô nhiễm môi trường ở
Sydney” là một phát biểu đúng, nhưng ảnh hưởng của thuốc lá đến
môi trường rất khiêm tốn khi so với ảnh hưởng của khói xe và các
hăng xưởng.
29. Ảnh hưởng ngược chiều.
Mối quan hệ giữa nguyên nhân và hậu quả bị đảo ngược chiều để
t́m đến một kết luận mang tính ngụy biện. Ví dụ: “Ung thư gây ra
thói quen hút thuốc lá”.
30. Nguyên nhân phức tạp.
Một sự kiện xảy ra có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng
người ngụy biện có thể đơn giản hóa thành một liên hệ đơn giản.
Chẳng hạn như “Tai nạn xe cộ là do đường xá xấu” có thể đúng,
nhưng tai nạn cũng có thể do người lái xe ẩu trong một điều kiện
xấu.
31. Nguyên nhân sai (Non
causa pro causa). Loại ngụy biện này xảy ra khi một điều nào đó
được cho là nguyên nhân của một sự kiện, nhưng nó chưa thực sự
được chứng minh là nguyên nhân. Ví dụ: “Tôi uống một viên
aspirin và cầu nguyện thượng đế, và tôi không c̣n bị nhức đầu.
Như vậy thượng đế đă chữa trị tôi khỏi nhức đầu.”
Nhóm 6. Nhập nhằng
32. Lí lẽ mơ hồ. Dùng những
chữ và lí lẽ mơ hồ, tối nghĩa là một h́nh thức ngụy biện, nhất
là khi một chữ hay câu phát biểu được dùng với hai (hay nhiều
hơn hai) ư nghĩa khác nhau. Ví dụ, chữ “miễn phí” trong câu sau
đây có thể có nhiều nghĩa khác nhau: “Có loại nhu liệu nào rẻ
hơn nhu liệu miễn phí? Nhưng để duy tŕ t́nh trạng miễn phí,
chúng ta cần phải có một hệ thống đăng kí và cung cấp giấy phép
cho người dùng.” Một ví dụ khác về cách nói lập lờ là “Các hành
động h́nh sự là bất hợp pháp, và tất cả các phiên ṭa xử tội
giết người là hành động h́nh sự, v́ thế tất cả các phiên ṭa này
bất hợp pháp”.
33. Chơi chữ (Amphiboly).
Ngụy biện bằng chơi chữ dựa vào những giả thuyết mơ hồ, nhập
nhằng, do bất cẩn thận hay cách phát biểu sai văn phạm. Chẳng
hạn như một phát biểu kiểu như “Giả thuyết: tin vào Thượng đế sẽ
lấp đi khoảng trống tinh thần” là ngụy biện, v́ người “lấp đi
khoảng trống tinh thần” là một điều trừu tượng, ai muốn hiểu sao
th́ hiểu.
34. Trọng âm (accent). Đây
là một h́nh thức ngụy biện bằng cách dùng thay đổi ư nghĩa của
một câu văn qua nhấn mạnh. Ví dụ như câu phát biểu “Chúng ta
không nên nói xấu về bạn bè” khác với “Chúng ta không nên nói
xấu về bạn bè” chỉ ở chỗ nhấn mạnh (gạch dưới). Người thờ ơ có
thể hiểu sai điểm nhấn mạnh của câu phát biểu.
Nhóm 7. Phạm trù sai
35. Hỗn hợp. Loại ngụy biện
này thường dùng những đặc tính bề ngoài để suy luận cho một điều
ǵ cá biệt. Ví dụ: “Xe đạp được làm bằng những dụng cụ nhẹ kí,
do đó, xe đạp rất nhẹ”, hay “Xe hơi dùng ít xăng dầu và không
gây ra ô nhiễm môi trường bằng xe bus. Do đó, xe hơi không gây
hại cho môi trường bằng tác hại của xe bus.”
36. Tùy tiện, phi thể thức
(ad hoc). Giải thích và lí lẽ là hai điều khác nhau. Nếu muốn
xác minh A, và dùng B làm bằng cớ, th́ câu phát biểu “A xảy ra
bởi v́ B xảy ra” là một lí lẽ. Tuy nhiên, nếu muốn xác minh một
sự thật về B, th́ câu phát biểu “A xảy ra bởi v́ B xảy ra” không
phải là một lí lẽ mà là một lời giải thích. Ngụy biện theo kiểu
phi thể thức là h́nh thức dùng giải thích sau khi đă có sự thật
mà sự thật không ứng dụng vào một bối cảnh khác. Thông thường
ngụy biện phi thể thức được khoác vào chiếc áo lí lẽ. Chẳng hạn
như nếu chúng ta giả định rằng Thượng đế đối xử công bằng với
mọi người, th́ những phát biểu sau đây là những lời giải thích
phi thể thức: “Tôi mới hết bệnh ung thư”, “Cầu nguyện với Thượng
đế đi, Ngài là đấng toàn năng”, “Nhưng Ngài có chữa trị cho
những bệnh nhân ung thư khác không”, “À, Thượng đế rất huyền
bí.”
Nhóm 8. Phi logic (non
sequitur) và nhần lẫn trong tam đoạn luận
37. Phi logic. Ngụy biện
phi logic thường xảy ra trong trường hợp một lí lẽ mà kết luận
được rút ra từ những tiêu đề không dính dáng ǵ với nhau. Chẳng
hạn như “Người Ai Cập đă từng làm nhiều khai quật để xây dựng
những kim tự tháp, họ chắc chắn phải rất thạo về cổ sinh vật
học.”
38. Loại bỏ tiền đề. Ngụy
biện loại này thường xảy ra dưới h́nh thức “nếu A th́ B, không
phải A th́ không phải B.” Ví dụ: “Nếu tôi ở Sài G̣n th́ tôi đang
ở Việt Nam. Tôi hiện không ở Sài G̣n, do đó, tôi không ở Việt
Nam”.
39. Giả định hư. Đây là một
loại ngụy biện bằng cách dùng kỹ thuật phỏng vấn. Một trường hợp
cổ điển là “Ông đă ngưng đánh vợ chưa?” Tức là một câu hỏi với
một giả định rằng người được hỏi từng hành hung vợ. Đây là một
mẹo mà giới luật sư thường hay dùng trong thẩm vấn. “Ông dấu
tiền ăn cắp đó ở đâu?” Giới chính khách cũng thích mẹo này, đại
khái như “Bao giờ th́ nhóm EU này sẽ không c̣n xâm phạm vào công
việc của chúng ta?”
40. Ngụy biện bốn ngữ. (
Một tiêu chuẩn của tam đoạn luận gồm có 3 chữ). Ví dụ như trong
câu phát biểu “Tất cả chó là thú vật, và tất cả mèo là loài động
vật có vú, do đó tất cả chó là loài động vật có vú,” có bốn chữ:
chó, mèo, động vật, và động vật có vú.
41. Đứt đoạn. Hai sự vật
riêng biệt được xem là có liên hệ nhau nếu chúng có chung đặc
tính. Người ngụy biện lợi dụng chữ giữa của một phát biểu để đưa
đến một kết luận sai. Chẳng hạn như trong câu “Tất cả người Nga
là nhà cách mạng, và tất cả những người theo chủ nghĩa vô chính
phủ cũng là nhà cách mạng, do đó, tất cả những người theo chủ
nghĩa vô chính phủ là người Nga,” chữ chính giữa là “nhà cách
mạng”. Nhưng kết luận này sai, v́ dù những người theo chủ nghĩa
vô chính phủ và người Nga là những người cách mạng, nhưng họ có
thể là hai nhóm cách mạng khác nhau.
Nhóm 9. Các nhầm lẫn khác
42. Dẫn chứng bằng giai thoại.
Một trong những ngụy biện phổ biến nhất và đơn giản nhất là dựa
vào những câu chuyện có tính vụn vặt, hay giai thoại. Chẳng hạn
như “Có hàng khối bằng chứng cho thấy thượng đế hiện hữu và vẫn
ban phép mầu hàng ngày. Mới tuần rồi đây, tôi có đọc được một
câu chuyện về một cô gái sắp chết v́ ung thư, cả gia đ́nh cô đi
cầu nguyện trong nhà thờ, và chỉ vài ngày sau cô hết bệnh.” Dùng
kinh nghiệm cá nhân để minh họa cho một luận điểm là một điều
hoàn toàn hợp lí, nhưng dùng những giai thoại như thế sẽ chẳng
chứng minh ǵ. Một anh bạn có thể cho rằng anh từng gặp Elvis ở
một siêu thị nào đó, nhưng những người chưa gặp Elvis bao giờ
th́ cần nhiều bằng chứng xác thực hơn.
43. Lợi dụng cổ tích. Đây
là một loại ngụy biện cho rằng những ǵ đúng hay tốt chỉ đơn
giản v́ chúng là cổ xưa, và những người theo cách ngụy biện này
thường nói “hồi nào đến giờ ai cũng vậy.” Chẳng hạn như “Hàng
trăm năm nay, Úc chịu dưới sự cai trị của Hoàng gia Anh, và là
một nước thịnh vượng. Một thể chế tồn tại lâu dài như thế ắt
phải là một thể chế ưu việt.”
44. Dựa vào cái mới (ad
novitatem). Ngược lại với loại ngụy biện dựa vào cái cũ, ngụy
biện dựa vào cái mới cho rằng một điều ǵ đó tốt hơn và đúng hơn
đơn giản chỉ v́ nó mới hơn cái khác. “Windows 2000 phải tốt hơn
Windows 95, Windows 2000 mới được thiết kế lại năm ngoái.”
45. Lí lẽ của đồng tiền.
Loại ngụy biện này thường dựa vào một niềm tin duy nhất rằng
đồng tiền là một tiêu chuẩn của sự đúng đắn. Những người có
nhiều tiến có khả năng đúng hơn những người ít tiền. Chẳng hạn
như “Nhu liệu của hăng Microsoft đương nhiên là tốt hơn; nếu
không th́ làm sao Bill Gates có thể trở nên tỉ phú như thế”.
46. Dựa vào cái nghèo.
Ngược lại với ngụy biện dựa vào sự giàu có, có một loại ngụy
biện khác dựa vào sự nghèo khổ. Chẳng hạn như “Các vị sư có khả
năng hiểu thấu được ư nghĩa của cuộc sống, bởi v́ họ từ bỏ mọi
xa hoa của cuộc sống.”
47. Điệp khúc (ad nauseam).
Loại ngụy biện này cho rằng một lí lẽ càng được lặp đi lặp lại
nhiều chừng nào th́ nó sẽ được người ta chấp nhận là đúng. Do
đó, người ngụy biện thường chỉ lặp đi lặp lại những phát biểu,
bất kể là quái dở thế nào, cho đến khi người đối thoại mệt mỏi
không c̣n muốn nghe nữa.
48. Lạm dụng thiên nhiên.
Đây là một ngụy biện rất thông thường trong giới chính trị gia,
mà trong đó họ t́m cái tương đồng giữa một kết luận nào đó và
một khía cạnh của thế giới tự nhiên, rồi từ đó phát biểu rằng
kết luận đó là không thể tránh khỏi. Chẳng hạn như “Đặc điểm của
thế giới tự nhiên là cạnh tranh; động vật đấu tranh chống nhau
để làm chủ tài nguyên thiên nhiên. Chủ nghĩa tư bản, một h́nh
thức cạnh tranh để làm chủ tư liệu, chỉ đơn giản là một phần của
con người sống trong thế giới tự nhiên. Đó cũng là cách mà thế
giới tự nhiên vận hành.”
Một h́nh thức khác của lạm dụng
thiên nhiên là lí luận cho rằng bởi v́ con người là sản phẩm của
thế giới tự nhiên, chúng ta phải bặ bắt chước hành động theo
những ǵ chúng ta thấy trong thế giới tự nhiên, và làm khác đi
là “phi tự nhiên”. Ví dụ: “Đồng tính luyến ái dĩ nhiên là không
tự nhiên. Có khi nào anh thấy hai thú vật cùng giới tính giao
phối với nhau không?”
49. Ngụy biện “Tu quoque”.
Đây là một trong những ngụy biện rất phổ biến. Nó dựa vào lí lẽ
rằng một hành động có thể chấp nhận được bởi v́ người đối nghịch
đă làm. Chẳng hạn như “Anh là một người lừa dối.” “Rồi sao? Anh
cũng là một tay lừa dối vậy.”
50. Lạm dụng thống kê.
Thống kê thường được giới ngụy biện sử dụng tối đa, v́ theo họ
thống kê có thể dùng để “chứng minh” bất cứ điều ǵ. Người ta có
thể vặn vẹo hai con số 1 và 3 điểm để sản xuất những phát biểu
như “khác nhau 2 điểm”, “cao gấp 3 lần”, hay “tăng 200%”; người
ta có thể dựa vào ư kiến đồng t́nh của 4 người trong 5 người để
cho là “80% người được thăm ḍ”, hay thậm chí “đa số cộng đồng”
đồng ư với một luận điểm nào đó. Tức là những khái quát hoá một
cách vội vă, hay dựa vào một mẫu số cực kỳ thấp, thấp đến độ nó
không có nghĩa lí ǵ. Thực ra, thống kê không chứng minh điều ǵ
cả. Thống kê chỉ là một phương tiện hay thuật toán dùng để loại
bỏ những trường hợp khả dĩ hay không khả dĩ. V́ có quá nhiều
ngụy biện thống kê, nên vấn đề này sẽ được bàn tiếp trong một
dịp khác. Tuy nhiên, những ai thích t́m hiểu vấn đề ngụy biện
thống kê có thể t́m đọc cuốn sách rất nổi tiếng của Darrell
Huff, có tựa đề là “How to lie with statistics” (tạm dịch: “Làm
thế nào để lừa dối bằng thống kê”).
***
Có thể nói những loại ngụy biện
trên đây có những đặc điểm chung là (a) phát biểu không dựa vào
lí lẽ logic; (b) các định đề không vững để đi đến một kết luận;
và (c) đưa ra giả định không đúng. Ngụy biện, do đó, nói cho
cùng, là một sản phẩm của sự lười suy nghĩ. Và hầu như trong
chúng ta, ai cũng có ít nhất là một lần lười suy nghĩ. Do đó,
nếu điểm qua những loại ngụy biện trên đây, chúng ta tự cảm nhận
rằng trong quá khứ ḿnh chắc cũng có lần phạm vào lỗi lầm của
ngụy biện. Điều này có thể đúng, và không nên lấy làm ngạc
nhiên, v́ các nhà thông thái, và ngay cả giới có huấn luyện về
logic học cũng đôi khi, v́ cố ư hay vô t́nh, ngụy biện. Giới
chính trị gia và truyền thông là những người cực kỳ nổi tiếng về
ngụy biện.
Nhưng tại sao những ngụy biện vẫn
c̣n có mặt trên báo chí? Theo tôi, bởi v́ chúng vẫn có khách
hàng. Vẫn có người, dù ít hay nhiều, tin tưởng vào ngụy biện, v́
nó thuận nhĩ, trơn tru, và nhất là không thách thức. Sờ một ḥn
đá trơn tru đem lại cho chúng ta một cảm giác khoan khoái dễ
chịu hơn là sờ một ḥn đá lởm chởm, hay ngồi trên một cái ghế
ghồ ghề. Người ta thích sự trơn tru, bởi v́ trơn tru là dấu hiệu
của sự khoan khoái, dễ chịu, là cái khoảng thời gian giải lao,
không cần sự thách thức.
Có lẽ, ở một khía cạnh nào đó,
điều này cũng không đến nỗi tệ, bởi v́ những ngụy biện phản ánh
sự thành công [hay có người nói sự phong phú] của ngôn ngữ trong
việc tách rời giữa những ǵ thô thiển, gồ ghề với những ǵ hoàn
thiện, mĩ miều. Nhưng sự trơn tru của các vật thể và ngôn ngữ
ngày nay đem lại cho chúng ta một cảm giác giả tạo về thế giới
thực của các vật thể. Những kỳ kẹt xe trên đường xá mới để lộ
trái tim phức tạp của một thành phố. Tương tự, một sự cố của
internet sẽ nhắc nhở chúng ta về t́nh trạng hỗn mang và phức tạp
của hệ thống thông tin điện tử. Sự hỗn mang và phức tạp là thực.
Trơn tru, tṛn trĩnh có thể là giả tạo. Những câu văn ngụy biện
có thể chỉ là những lời phát biểu lém lỉnh thay v́ lịch thiệp,
hàm chứa mánh khóe thay v́ thân thiện. Có thể nói, ngụy biện
là những lối sáo ngữ liến thoắng nhằm vào mục đích lôi cuốn
người nghe/đọc, thay v́ cung cấp cho họ một sự thực.
Bởi v́ ngụy biện là những lí lẽ mà
bề ngoài có vẻ logic, nên chúng có khả năng thuyết phục những
người không chịu khó suy nghĩ, nhất là những người c̣n mang nặng
cảm tính. Điều này giải thích tại sao nhiều người trong chúng ta
tiếp nhận một cách thụ động quá nhiều những điều càn rỡ về thế
giới chung quanh, kể cả những niềm tin tôn giáo, những mê tín dị
đoan, những triết lí quái đảng, những thông tin sai lạc, v.v..
Cái tác hại của việc tiếp nhận thụ động này là nó làm cho chúng
ta trở nên nô lệ với cảm tính, và dễ dàng trở thành những tín đồ
cuồng tín của những người “lănh đạo” chính trị hay tôn giáo.
Để không trở thành những nô lệ,
chúng ta cần phải suy nghĩ nghiêm túc. Suy nghĩ nghiêm túc là
một quá tŕnh hoạt động tri thức nhằm ư niệm hóa, ứng dụng, phân
tích, tổng hợp, và (hay) đánh giá những thông tin được thu thập
từ quan sát, kinh nghiệm, phản ánh, lí luận, hay liên lạc, như
là một niềm tin cho hành động. Chúng ta cần phải dựa vào những
giá trị tri thức với những đặc điểm như trong sáng, chính xác,
nhất quán, có liên hệ, bằng chứng tốt, lí lẽ hợp lí, có chiều
sâu, và công b́nh. Tức là, trước một câu phát biểu hay một đề
nghị, chúng ta phải thẩm định lại kết cấu và nguyên tố của phát
biểu hay đề nghị đó. Những kết cấu và nguyên tố này là: mục
đích, vấn đề, giả định, quan niệm, bối cảnh, kết luận, ngụ ư,
hậu quả, phạm vi tham khảo, và quan điểm khác.
Người Việt chúng ta thường rất tự
hào về những đối thoại [mà chúng ta cho là “thông minh”] giữa
Trạng Quỳnh và Chúa Trịnh ngày xưa. Nhưng nói một cách công bằng
và theo tiêu chuẩn của lí luận logic, th́ những trao đổi của
Trạng Quỳnh hay tương tự chỉ là những ngụy biện ở tŕnh độ thô
sơ nhất [*]. Nhưng có điều đáng buồn là những đối thoại kiểu
Trạng Quỳnh, mà trong đó sự hơn thua nhau từng câu nói, bắt bẽ
nhau từng chữ, vặn vẹo ư nghĩa của từng câu văn, v.v… lại đi vào
sử sách, như thể để làm gương cho thế hệ sau này. Mà làm gương
thật. Cho đến ngày nay, có người vẫn c̣n cho đó là một biểu
tượng của sự thâm thúy, thông minh của dân tộc, là phản ánh sự
phong phú của ngôn ngữ Việt, và đem ra ứng dụng trong tranh
luận.
Theo dơi báo chí, chúng ta thấy
những h́nh thức tấn công cá nhân (thay v́ tấn công vào luận
điểm), xuyên tạc ư tưởng, chụp mũ, suy luận theo cảm tính, mỉa
mai, đơn giản hóa vấn đề, v.v… xuất hiện hầu như hàng ngày, có
khi hàng giờ. V́ những tần số của những loại ngụy biện xuất hiện
quá nhiều như thế, nó thành một sự rập khuôn. Theo thời gian,
rập khuôn trở thành “truyền thống”. Hậu quả của cái truyền thống
này là những ai ra ngoài cái khuôn sáo của ngụy biện đều có thể
bị xem là phi chính thống, dẫn đến một lối suy nghĩ và phán xét
ḱ quặc kiểu “anh/chị không thuộc nhóm của tôi, vậy th́ anh/chị
thuộc nhóm bên kia,” “anh khen Việt Nam, vậy anh là cộng sản,”
“giọng nói anh ‘Bắc ḱ 75’, vậy anh là cộng sản,” hay “Nhà nước
cho anh ra ngoài này tŕnh diễn, chắc anh là cộng sản đi tuyên
truyền”… Anh ở phía này, tôi bên kia. Nói tóm lại, đó là một lối
phân định theo hai giá trị: xấu và tốt, đen và trắng, hay địch
và ta một cách cứng nhắc. Cách phân định này thể hiện một sự
nghèo nàn về trí tuệ, hay lười biếng suy nghĩ. Chỉ cần đặt vấn
đề ngược lại một chút, hay phát triển vấn đề xa hơn một chút, ai
cũng có thể thấy lối phân chia có/không này không thể đem đến
một đáp số cho một vấn đề nào cả.
Trong cái sự thực phức tạp, mờ mờ
ảo ảo của vấn đề, có cái đẹp riêng. Không phải cái đẹp trơn tru,
tṛn trĩnh, nhưng là cái đẹp khắt khe của sự thật. Tương tự, một
lời phát biểu nghịch lí có cái đẹp của nó, v́ nó có thể đánh
thức chúng ta về một thế giới phức tạp, một thế giới không nằm
gọn trong đúng/sai, tốt/xấu, bạn/thù. Có lẽ đă đến lúc chúng ta
nên vượt qua chính ḿnh bằng cách cho các tế bào trí tuệ có cơ
hội làm việc.
—————————-
[*] Đơn cử về câu chuyện “Mèo chúa, mèo dân”, chuyện kể như sau:
Chúa Trịnh có một con mèo mà Chúa rất đỗi yêu quí. Mỗi bữa ăn
của mèo Chúa đều cho mèo ăn cơm thịt cá. Muốn chơi khăm Chúa,
Quỳnh bèn bắt trộm con mèo của Chúa đem về nhà ḿnh. Đến bữa ăn,
Quỳnh đem ra hai đĩa thức ăn, một đĩa cơm rau, một đĩa cơm thịt,
và Quỳnh cầm chiếc roi chờ đấy. Do quen ăn thịt cá nên con mèo
của Chúa chạy ngay sang đĩa thức ăn quen thuộc của ḿnh. Mỗi lần
như vậy th́ Quỳnh dùng roi quất cho con mèo rơ đau. Chừng vài
lần th́ con mèo thôi không dám bén mảng đến đĩa cơm thịt nữa,
đói quá rồi cũng ăn cơm rau ngon lănh. Tin Quỳnh ăn cắp mèo rồi
cũng đến tai Chúa. Chúa sai Quỳnh đến hỏi cho ra cớ sự. Quỳnh lí
lẽ: Mèo của chúa là mèo cao sang đài các, nên bữa ăn cũng sang
trọng; c̣n tôi nhà nghèo, nên mèo tôi cũng chỉ ăn cơm rau. Bây
giờ nếu Chúa bảo tôi đánh cắp mèo của Chúa, hăy thử đem ra đây
hai đĩa thức ăn, một đĩa có thịt một đĩa chỉ cơm rau. Nếu mèo ăn
cơm thịt là mèo của chúa, mà nếu nó ăn cơm rau th́ là mèo của
tôi”. Chúa ưng thuận bèn sai y truyền. Con mèo của Chúa vẫn theo
bản năng của ḿnh, nhưng khi thấy Quỳnh nhấp nhấp cái roi, nó sợ
quá, bèn bước qua đĩa cơm rau ăn ngon lành. Quỳnh mới vỗ tay reo
lên :”Đấy mèo của Chúa th́ phải ăn thịt cá, c̣n mèo dân của tôi
chỉ ăn cơm rau, th́ rơ là mèo của tôi chứ tôi có đánh cắp mèo
của Chúa bao giờ!”. Nói rồi Quỳnh đắc thắng ôm con mèo của Chúa
đi thẳng, để mặc cho Chúa tức giận, biết bị Quỳnh chơi khăm mà
không làm ǵ được.
Ở đây lí luận của Trạng Quỳnh phạm
phải lối nguỵ biện “loại bỏ tiền đề” như đă nêu ở trên.
|