|
Hướng đi nào để
giải quyết vấn đề chất độc da cam ở Việt Nam
Nguyễn Văn Tuấn
(Bài này đă trên Tạp chí
Hoạt động Khoa học, số tháng 3/2007)
Phát biểu trên báo chí gần đây, một phụ tá
của một thượng nghị sĩ Mĩ cho biết Chính phủ Mĩ đă nhận thức
được hậu quả của chất độc da cam ở Việt Nam, và sẽ cùng làm việc
với Chính phủ Việt Nam để giải quyết vấn đề cho thỏa đáng cả đôi
bên. Lời tuyên bố của ông phụ tá thượng nghị sĩ có lẽ là một
tín hiệu có thiện chí từ Mĩ nhằm tiến đến một bước cuối cùng
trong việc b́nh thường hóa quan hệ giữa hai nước. Nhưng câu
hỏi đặt ra là giải quyết như thế nào và bồi thường cho ai. Theo
tôi, khi nói đến “bồi thường”, chúng ta cần xác định rơ
rằng bồi thường không có nghĩa đơn giản là cung cấp tiền bạc cho
nạn nhân (như Bộ cựu chiến binh ở Mĩ đang làm đối với các cựu
chiến binh được công nhận là bị phơi nhiễm độc chất) mà c̣n phải
bao gồm nhiều h́nh thức cộng đồng khác nữa. Ở đây, tôi xin đề
nghị một vài định hướng chung và phương tiện tiếp cận vấn đề mà
tôi đă phát biểu trong một trả lời phỏng vấn cho Tạp chí Science
(một tạp chí khoa học hàng đầu trên thế giới) sắp phát hành nay
mai.
Kinh nghiệm từ Thế chiến thứ II và cuộc chiến ở Nam Tư vừa qua,
vấn đề này có thể được tiếp cận bằng ba “hành lang công lí” cho
nạn nhân chất độc da cam tại Việt Nam: Ṭa án công lí quốc tế
(International Court of Justice, ICJ), các ṭa án trong nước (Việt
Nam), và một quĩ tài trợ quốc tế. V́ lí do chính trị và công
pháp quốc tế, hai phương tiện đầu (ICJ và toà án trong nước)
không thực tế và khó mà ứng dụng cho trường hợp Việt Nam. Do đó,
trong ba cách tiếp cận này, chỉ có hành lang sau cùng là thực tế
nhất: đó là thiết lập một quĩ tài trợ quốc tế cho nạn nhân chất
độc da cam tại Việt Nam. Có thể Quĩ này sẽ do các nước trên thế
giới từng tham chiến ở Việt Nam, kể cả có lẽ phần lớn từ Mĩ,
đóng góp. Quĩ nên được một hội đồng quốc tế đứng ra quản lí và
điều hành dựa vào những tiêu chí nghiêm chỉnh mà mọi bên đều
nhất trí. Thông qua quĩ này, có thể làm một số việc thực tế như
sau:
Thứ nhất, giúp đỡ cho những nạn nhân bị nhiễm độc chất và bị
những bệnh được công nhận là do độc chất da cam hay dioxin gây
ra. Viện Y khoa Mĩ đă chính thức công nhận chất độc da cam
hay dioxin là nguyên nhân gây ra một số bệnh như ung thư tế bào
mềm, ung thư máu dạng Non-Hodgkin và Hodgkin, ung thư tuyến tiền
liệt, ban clor, chứng nứt đốt sống, v.v… Chính v́ thế mà vào
năm 1984, các công ti hóa học [có liên quan đến việc sản xuất và
cung cấp độc chất da cam cho quân đội Mĩ] đồng ư bồi thường cho
các cựu quân nhân Mĩ một số tiền khoảng 180 triệu Mĩ kim. Ở
Việt Nam, h́nh thức bồi thường có thể bao gồm việc điều trị
những bệnh được công nhận là do phơi nhiễm độc chất gây ra, tạo
công ăn việc làm cho những cư dân trong các vùng bị nhiễm, lập
bệnh xá và trường học để nâng cao đời sống vật chất và tŕnh độ
văn hóa cho nạn nhân và cư dân tại những nơi bị nhiễm độc chất.
Thứ hai, quĩ nên bỏ ra một số ngân khoản để làm sạch môi
trường tại những nơi bị nhiễm nặng như Biên Ḥa, A Lưới, A Sao,
v.v... Thời gian bán hủy của dioxin là khoảng 10 năm. Nói
tóm lại sau 10 năm, 50% nồng lượng dioxin vẫn c̣n tồn tại trong
con người, và nếu không tồn tại trong con người th́ tồn tại
trong môi trường. Do đó, tác hại của dioxin rất lâu dài. Xin
dẫn một ví dụ. Năm 1976, ở Ư sau vụ tai nạn kĩ nghệ xảy ra tại
nhà máy gần thị trấn Seveso làm thải ra môi trường chung quanh
khoảng 30 kg dioxin. Ấy thế mà cho đến nay, tức gần 30 năm sau
tai nạn đó và sau 30 năm làm sạch môi trường, các nhà nghiên cứu
Ư vẫn phát hiện tác hại của dioxin trong sức khỏe người dân. Ở
Việt Nam hiện nay, kết quả của nhiều nghiên cứu cho thấy tại các
địa điểm này, nồng độ dioxin rất cao, có khi cao hơn 130 lần
nồng độ an toàn cho phép, v́ chất độc đă lắng đọng xuống ḷng
đất, nhất là các nơi bùn lầy. Do đó, nhu cầu làm sạch môi
trường tại những nơi này phải được xem là một ưu tiên hàng đầu.
Thứ ba, quĩ tài trợ nên hỗ trợ và giúp đỡ thành lập một viện
nghiên cứu quốc tế về chất độc da cam và dioxin. Viện sẽ
qui tụ nhiều chuyên gia trên thế giới về hóa học, y học, môi
trường học và dịch tễ học để tiến hành những nghiên cứu cơ bản
cũng như nghiên cứu lâm sàng xác định cơ chế tác hại của dioxin
và chất độc da cam trên con người và môi trường. Viện cũng có
thể phục vụ như là một trung tâm đào tạo các nhà khoa học tương
lai chuyên về môi trường học và y tế - môi trường học. Đây là
một việc làm mang ư nghĩa quốc tế v́ nó sẽ cung cấp thông tin
khoa học quí báu vào kho tàng tri thức của con người về tác hại
của dioxin.
Thứ tư, ngay bây giờ chính phủ Mĩ và các công ti hóa học Mĩ
có thể tài trợ để Việt Nam có thể tiến hành thu thập dữ kiện
khoa học về tác hại của chất độc da cam tại Việt Nam.
Nghiên cứu này nhắm vào mục tiêu phát triển cho được một phương
pháp để ước định mức độ phơi nhiễm độc chất cho từng cá nhân
trong những vùng từng bị ảnh hưởng độc chất; thiết lập mối liên
hệ giữa mức độ phơi nhiễm độc chất da cam và các bệnh như ung
thư, dị tật bẩm sinh, tiểu đường, và tỉ lệ giới tính; và thẩm
định tác hại của dioxin hay độc chất da cam đối với cấu trúc di
truyền (gen) trong các nạn nhân thuộc thế hệ thứ hai và thứ ba.
Trong suốt gần 30 năm sau khi chiến tranh chấm dứt, trên các
diễn đàn khoa học quốc tế số lượng bài báo khoa học liên quan
đến độc chất da cam từ Việt Nam c̣n cực ḱ khiêm tốn (chưa đến
con số 10). Phần lớn những nghiên cứu này chỉ ở dạng mô tả,
chưa đi sâu vào vấn đề. Do đó, đây là một nhu cầu cấp bách, bởi
v́ dù qui mô lớn như thế nhưng tác hại của độc chất da cam và
dioxin trong đồng bào Việt Nam từng bị phơi nhiễm độc chất trong
thời chiến cho đến nay vẫn chưa rơ ràng.
Cuộc chiến Việt Nam (dùng
theo cách nói của người Mĩ, Vietnam war) kéo dài
14 năm trời từ 1961 đến 1975. Trong thời gian đó, ngoài số
lượng vũ khí và đạn dược khổng lồ, quân đội Mĩ c̣n phun xuống
môi trường Việt Nam đến 77 triệu lít hóa chất (trong số đó trong
đó 64% là chất độc màu da cam) trong suốt 10 năm từ 1961 đến
1971. Có thể nh́n hệ quả của chất độc da cam ở Việt Nam như là
một vết thương chiến tranh mà cuộc chiến, dù đă chấm dứt từ 30
năm trước đây, để lại. Ngày nay người nước ngoài đến Việt Nam
chắc sẽ không thấy vết thương đó, mà họ chỉ nh́n thấy một nước
Việt Nam đang trên đường phát triển kinh tế nhanh chóng. Nhưng
trên thực tế th́ Việt Nam vẫn là một trong những nước nghèo nhất
thế giới, và những cư dân sống trong các vùng từng bị ảnh hưởng
chất độc da cam trong thời chiến tranh là những người c̣n nghèo
hơn cả những người nghèo. Họ cần được giúp đỡ.
Dù có nhiều mâu thuẫn trong cách hành xử quốc tế, nước Mĩ là một
quốc gia hào hiệp và ṣng phẳng. Khả năng mà Mĩ có ảnh hưởng
tích cực đến thế giới tùy thuộc vào uy tín đạo đức của Mĩ. Nước
Đức thời hậu chiến ghi nhận trách nhiệm của Đức trong thế chiến
thứ II, không chỉ v́ nạn nhân của chiến tranh, mà c̣n v́ tương
lai nước Đức. Người Đức hiểu rằng một quốc gia không dám nh́n
nhận cái sai trái của ḿnh trước con em ḿnh và trước thế giới
th́ không thể nào khôi phục đạo đức được. Mĩ là một quốc gia
được xây dựng trên nền tảng dân chủ và sự thật, và không có lí
do ǵ ngăn cản Mĩ nhận lănh trách nhiệm về sai lầm và những hệ
quả nghiêm trọng của chất độc da cam ở Việt Nam.
|