Công nghệ thông tin y tế
BS PHAN XUÂN
TRUNG
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN là một
cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật to lớn của thế giới, đă và đang
giúp thay đổi toàn diện và hiệu quả tất cả mọi lĩnh vực khoa
học, kỹ thuật, chính trị, quân sự và đời sống… trong đó có lĩnh
vực y tế.
CNTT phát triển nhanh chóng
đă giúp ngành y tế đạt được nhiều thành tựu lớn lao trong công
tác khám chữa bệnh và quản lư bệnh viện hiện đại. CNTT y tế đă
phát triển theo các chức năng:
-
Nâng cao kiến thức chuyên môn: Sử dụng thông tin
từ các website y học, forum, sách điện tử, video, bài giảng từ
xa… giúp cập nhật kiến thức và san bằng khoảng cách kiến thức
giữa các vùng địa lư. Nhân viên y tế dù ở vùng sâu vùng xa cũng
dễ dàng tiếp cận kiến thức, kỹ thuật y tế mới nhất thông qua hệ
thống internet. Bác sĩ tại các nước đang phát triển cũng có thể
dễ dàng tiếp cận, cập nhật các kiến thức mới nhất của các nước
tiên tiến.
-
Tự động hóa các phương tiện chẩn đoán và điều trị:
Máy móc xét nghiệm ngày nay hoàn toàn tự động hóa, tiết giảm
thao tác, nâng cao độ chính xác xét nghiệm. Các máy móc chẩn
đoán h́nh ảnh đă ứng dụng các kỹ thuật dựng h́nh để bộc lộ h́nh
ảnh bệnh lư 3 chiều, phục vụ chẩn đoán và điều trị ngoại khoa.
Kỹ thuật nội soi giúp can thiệp điều trị một cách hiệu quả và
tiết giảm chi phí…
-
Hỗ trợ đắc lực trong thực hành y khoa: CNTT mang
lại nhiều lợi ích trong thực hành y khoa, đă được chứng minh
trong thực tế như giảm thiểu tử vong do sai lầm y khoa, giúp bác
sĩ quyết định lâm sàng nhanh chóng và chính xác, hỗ trợ y tế từ
xa (telemedicine), lưu trữ và phân tích số liệu cho nghiên cứu
khoa học...
-
Tăng cường chức năng quản lư bệnh viện: Toàn bộ
thông tin bệnh viện được sắp xếp, tổ chức một cách khoa học, làm
cơ sở cho công tác quản lư bệnh viện một cách hiệu quả…
Tại đất nước khai sinh ra
ngành CNTT như nước Mỹ, năm 2002 tổng thống Mỹ G. Bush đă xác
định đến năm 2014 toàn dân Mỹ có được cấp mă số sức khỏe, nối
mạng bệnh viện toàn quốc. Năm 2008 tổng thống Obama ngay những
ngày đầu nhậm chức đă kêu gọi ứng dụng CNTT trong cải cách y tế.
Các nước tiên tiến như Anh,
Úc, Canada là những nước đặc biệt chú trọng đầu tư chi phí vào
CNTT y tế v́ thấy được tầm quan trọng của sức khỏe nhân dân đồng
thời tiết kiệm được nhiều chi phí so với không ứng dụng CNTT.
New Zealand được xem là nước có ứng dụng CNTT trong y tế tốt
nhất hiện nay. Các nước trên thế giới đă lên kế hoạch xây dựng
chương tŕnh quốc gia về CNTT y tế để thích nghi với thời đại
mới.
Tại khu vực Châu Á các nước
tiên tiến như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore… cũng đă
ứng dụng tốt CNTT trong quản lư bệnh viện.
Hiện nay thế giới đă tiến
đến ứng dụng “y tế di động” (M-Health), ứng dụng các phương tiện
điện thoại di động, máy tính bảng để theo dơi và can thiệp vấn
đề sức khỏe bệnh nhân từ xa.
CNTT y tế Việt Nam
Theo sự phát triển kinh tế xă hội ngày càng tăng, các bệnh viện
Việt Nam đă dần dần được trang bị nhiều thiết bị y tế hiện đại
như máy xét nghiệm tự động, máy siêu âm 3D, 4D, X quang kỹ thuật
số, máy chụp cắt lớp, cộng hưởng từ, PET-CT… giúp nâng cao chất
lượng chẩn đoán và điều trị. Thiết bị y tế hiện đại đă giúp khám
và điều trị hiệu quả các bệnh khó. Nhờ các thiết bị này, y tế
Việt Nam đă bắt kịp tŕnh độ y tế trong khu vực.
Các bác sĩ Việt Nam ngày nay đă hầu hết đă biết sử dụng máy
tính, thích nghi được với CNTT, sử dụng internet để tự nâng cao
kiến thức chuyên môn và ứng dụng trong khám chữa bệnh.
Mặc dù chính phủ Việt Nam đă có nhiều chủ trương khuyến khích
ứng dụng CNTT trong quản lư, hướng tới chính phủ điện tử và Bộ y
tế đă ra nhiểu chỉ thị thúc đẩy ứng dụng CNTT trong quản lư y
tế, tuy nhiên hầu hết các bệnh viện vẫn c̣n chưa ứng dụng được
CNTT trong quản lư v́ không t́m được phần mềm đáp ứng đúng hoạt
động của bệnh viện. Đă có những dự án trang bị CNTT cho bệnh
viện như dự án HMIS, phần mềm báo cáo Medisoft 2003 của Bộ y tế
được triển khai hàng loạt năm 2004 nhưng đă thất bại.
Cho đến nay, hầu hết bệnh viện Việt Nam vẫn chưa thể tiếp cận
với CNTT một cách hiệu quả.
Với cung cách quản lư thủ công hoặc trang bị CNTT không đầy đủ
như hiện nay, ngành y tế Việt Nam đang phải hứng chịu nhiều vấn
đề nan giải:
1. Đối với lănh đạo bệnh viện:
-
Thông tin không chính xác: Việc điều hành bệnh
viện phụ thuộc vào những thông tin được tổng hợp từ các bộ phận
chức năng nhưng các thông tin này lại thường chậm trễ, thiếu sót
và sai lệch. H́nh thức báo cáo trên giấy, báo cáo miệng, họp
hành… có nhiều hạn chế về tính chính xác, độ tin cậy. Số liệu
báo cáo bị ảnh hưởng bởi cảm tính và tŕnh độ chuyên môn của
người lập báo cáo.
-
Thông tin thiếu toàn diện: Các hoạt động của bệnh
viện hiện nay được thể hiện trên các báo cáo rời rạc, không liên
hoàn, liên kết nhau. Hầu hết các số liệu báo cáo đưa đến từ các
bộ phận khác nhau đều không khớp số liệu khi đối chiếu cùng
nhau. Do đó lănh đạo bệnh viện không giám sát được toàn diện
hoạt động bệnh viện.
-
Thất thoát tài sản, kém minh bạch tài chính: Do
mỗi bộ phận quản lư riêng một chức năng của bệnh viện, không có
kiểm tra, đối chiếu, kiểm chứng ngay tức th́ nên xảy ra t́nh
trạng thất thoát tài sản, thất thu viện phí, trong đó nổi bật là
các nhóm quản lư viện phí, dược, tài sản công…
-
Phát sinh tiêu cực: Không kiểm tra được những t́nh
trạng tiêu cực do nhân viên vô t́nh hay cố ư tạo ra.
2. Đối với nhân sự bệnh viện:
-
Thiếu nhân sự: Hiện nay Việt Nam đang thiếu hụt
nhân sự cho y tế do đào tạo không đủ đáp ứng được nhu cầu. Các
bệnh viện luôn luôn trong t́nh trạng quá tải.
-
Nhân sự thiếu chất lượng chuyên môn: Do bận rộn
trong t́nh trạng quá tải bệnh nhân, Bác sĩ mất khả năng tự đào
tạo do thiếu th́ giờ, thiếu sách vở... Kiến thức của các bác sĩ
luôn luôn cũ so với t́nh h́nh thông tin thế giới luôn luôn thay
đổi.
-
Lăng phí nhân sự chuyên môn: Bác sĩ được đào tạo
chuyên môn y khoa nhưng phải làm các công việc hành chính. Công
việc quản lư hành chính là những công việc không chuyên nghiệp
đối với bác sĩ, gây hạn chế hiệu quả công việc hành chính đồng
thời phí phạm năng lực chuyên môn. Việc tập hợp số liệu làm báo
cáo luôn luôn chiếm nhiều thời gian, công sức của bác sĩ.
-
Lăng phí trong lưu trữ và khai thác dữ liệu y tế:
Bác sĩ không lưu trữ được hồ sơ bệnh nhân một cách khoa học. Hầu
hết bệnh án được lưu trữ bằng giấy, nội dung ghi chép qua loa,
không đầy đủ. Dù bệnh án có được lưu trữ th́ cũng hiếm khi được
khai thác cho nghiên cứu khoa học.
-
Lăng phí thông tin: Khi khám chữa bệnh cho bệnh
nhân, bác sĩ không xem được tiền sử bệnh án một cách đầy đủ và
chính xác, nhất là cách bệnh mạn tính. Do đó việc đánh giá bệnh
trạng sẽ dẫn đến sai sót. Không có phương tiện giúp trí nhớ,
không có hệ thống thư viện sẵn có để hỗ trợ công việc. Bác sĩ
không thể nhớ hết mọi thứ, v́ vậy rất cần một hệ thống giúp
trí nhớ, một thư viện tại chỗ để tham khảo ngay khi cần
thiết. Việc này giúp cải thiện giá trị lao động của Bác sĩ, có
lợi cho bệnh nhân. Số liệu cận lâm sàng như xét nghiệm, chẩn
đoán h́nh ảnh không được lưu trữ. Đây chính là kho tàng dữ liệu
cho nghiên cứu khoa học.
-
Lăng phí thời gian: Trong khi làm bệnh án, khám
chữa bệnh, bác sĩ mất nhiều th́ giờ cho việc ghi chép trên giấy.
Tại mỗi khâu trong quá tŕnh khám bệnh, thông tin bệnh nhân phải
được ghi chép lặp lại nhiều lần. Bệnh nhân có bệnh mạn tính cần
khám bệnh nhiều lần cũng phải ghi chép lặp lại các chi tiết hành
chính, gây mất thời gian.
-
Gây hại cho bệnh nhân: Nhiều bác sĩ viết đơn thuốc
chữ khó đọc gây khó khăn cho người bệnh. Những đơn thuốc viết
tay chữ xấu chẳng những không giúp cứu sống mà c̣n có thể gây
hại cho bệnh nhân v́ mua nhầm thuốc hoặc dùng sai cách dùng. Các
đơn thuốc không được kiểm tra chống chỉ định, tương tác thuốc
cũng sẽ gây hại cho bệnh nhân.
3. Đối với bệnh nhân:
-
Nhiều phiền hà khi khám chữa bệnh: Thủ tục hành
chính rườm rà trong đăng kư khám chữa bệnh gây phiền hà cho bệnh
nhân. Thời gian được hưởng dịch vụ y tế ít hơn thời gian chờ
đợi, xếp hàng… do thực hiện các thủ tục hành chính như đăng kư,
đóng viện phí, chờ nhận thuốc...
-
Phát sinh tiêu cực: Khi những thủ tục gây khó cho
bệnh nhân th́ phát sinh tiêu cực giữa bệnh nhân và nhân viên y
tế. Nạn c̣ mồi, móc nối xảy ra ở nhiều nơi.
-
Bị tổn hại do y tế gây ra: Các bệnh nhân có t́nh
trạng đặc biệt như dị ứng thuốc, có thai, cho con bú, trẻ em
hoặc các bệnh đặc biệtc cần tránh sử dụng các loại thuốc có thể
gây hại. V́ bác sĩ thiếu thông tin về bệnh nhân cũng như thiếu
thông tin về thuốc nên những bệnh nhân này bị dùng những loại
thuốc có chống chỉ định và gây hại.
-
Không được thông tin về bệnh của ḿnh: Bệnh nhân
không thể lưu trữ hồ sơ sức khỏe của ḿnh một cách đồng bộ, đầy
đủ để chuyển cho bệnh viện khác khi cần thiết. Những bệnh nhân
lớn tuổi có các bệnh mạn tính như tăng huyết áp, tiểu đường hoặc
các bệnh đặc biệt như tâm thần, suy thận, ung thư… thường phải
lưu hồ sơ một cách đồng bộ để theo dơi, nhưng thực tế h́nh thức
bệnh án giấy khiến cho việc mang theo hồ sơ gặp khó khăn và bác
sĩ không có nhiều th́ giờ để xem đầy đủ diễn biến bệnh.
4. Đối với hệ thống báo cáo y tế – thống kê – kiểm tra dịch
bệnh:
-
Số liệu thống kê bệnh viện dùng để báo cáo lên các cấp
quản lư bên trên không thật sự chính xác và không đầy đủ.
-
Việc thống kê báo cáo thủ công bằng giấy mất rất nhiều
thời gian.
-
Có quá nhiều loại báo cáo, thống kê cần làm, lặp lại…
-
Khi có dịch bệnh phát sinh th́ số liệu không thể hiện
ngay tức thời để có phương án xử lư…
5. Đối với chính sách bảo hiểm y tế
Nhà nước Việt
Nam đang thực hiện chính sách BHYT, tiến tới BHYT toàn dân vào
năm 2014. Trong những năm qua, việc thực hiện luật BHYT vào thực
tế đă phát sinh nhiều vấn đề nan giải, cho đến nay vẫn c̣n chưa
được giải quyết ổn:
-
Cách thức tính phí đồng chi trả nhiều phức tạp gây khó
khăn cho việc tính toán và định giá viện phí cho từng đối tượng
bệnh nhân.
-
Việc quản lư, lưu trữ đơn thuốc để kiểm chứng khi báo cáo
quyết toán làm tăng thêm công việc cho bác sĩ và hao tốn giấy
mực cũng như kho lưu trữ.
-
Các công thức tính gói dịch vụ y tế không theo thực thu
thực chi gây nhiều khó khăn cho kế toán.
-
Việc phân chia kho thuốc thành kho dịch vụ và kho BHYT
làm tăng nhân sự quản lư dược và khó khăn trong việc cung cấp
thuốc.
-
Các vấn đề về hưởng BHYT của trẻ em và trường hợp tai nạn
giao thông chưa rơ ràng.
-
Báo cáo quyết toán hàng quư gây khó khăn, mất nhiều th́
giờ và công sức của nhân sự kế toán. Các báo cáo thường xuyên bị
sai lệch số liệu, từ đó dẫn đến quyết toán chậm trễ, gây khó
khăn cho hoạt động bệnh viện.
-
Các yêu cầu báo cáo BHYT thường xuyên thay đổi khiến cho
việc lập số liệu báo cáo mất nhiều công sức mà lại không hữu
dụng.
-
Ngoài ra c̣n có vấn đề lạm dụng thẻ BHYT của bệnh nhân và
cả nhân viên y tế, cố ư khai sai để nhận thuốc gây thất thoát
cho ngân sách BHYT. Điều này đă xảy ra ở nhiều nơi và chưa có
biện pháp ngăn chặn hữu hiệu.
-
Những thủ tục phiền hà về hành chính BHYT tạo cho bệnh
nhân những khó khăn khi khám bệnh khiến cho bệnh nhân có cái
nh́n ác cảm với chính sách BHYT.
-
…
Chủ trương
của nhà nước và thực tế phát triển
Nhận thức được tầm quan trọng của CNTT trong quản lư bệnh
viện, Bộ Y Tế đă có nhiều văn bản, chỉ thị của Bộ Trưởng Y Tế
yêu cầu các bệnh viện nhanh chóng ứng dụng CNTT đặc biệt là đơn
thuốc điện tử trong quản lư bệnh viện. Ban chỉ đạo CNTT Bộ Y tế
đă có nhiều hướng dẫn, tiêu chí giúp bệnh viện thực hiện ứng
dụng CNTT y tế. Các hội nghị về CNTT y tế được tổ chức hàng năm
để ghi nhận sự phát triển và lấy ư kiến đề xuất cho sự phát
triển CNTT y tế.
Thực tế, các bệnh viện ngày nay đă được kết nối internet.
Một số thử nghiệm về chẩn đoán trực tuyến từ xa đă được tiến
hành. Bộ y tế và các đơn vị trực thuộc đă có website. Nhiều bệnh
viện đă tự lực xây dựng hoặc mua các phần mềm chuyên dụng phục
vụ cho công tác của ḿnh.
Tuy nhiên, những thứ có được trong thực tế kể trên là vô
cùng nhỏ bé. Cùng với sự thất bại của nhiều đề án CNTT như 211,
các chương tŕnh chính phủ điện tử không thành công, việc ứng
dụng CNTT trong quản lư Bệnh viện ở Việt Nam c̣n nhiều yếu kém
nếu không muốn nói là “chưa có ǵ”. Việc nghiên cứu,
ứng dụng và đào tạo tin học y tế trong những nǎm qua
vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng tǎng về CNTT y tế ở Việt
Nam.
Bước đầu những công ty phần mềm tham gia xây dựng hệ thống quản
lư bệnh viện đă thất bại nặng v́ thiếu kiến thức chuyên môn y
tế. Nhiều bệnh viện đă hăng hái ứng dụng CNTT nhưng nhận lấy
thất bại do phần mềm không đáp ứng được yêu cầu thực tế. V́ nếm
trải thất bại nên các bệnh viện đă trở nên nghi ngờ về khả năng
của CNTT trong y tế, dần dần trở nên thụ động và từ chối ứng
dụng CNTT khi chưa thấy được kết quả khả quan từ... các bệnh
viện khác.
Nguyên nhân
thất bại:
Nhiều phân tích đă
cho thấy các nguyên nhân của sự thất bại trong ứng dụng CNTT
trong bệnh viện:
-
Các hoạt động chuyên môn bệnh viện quá phức tạp. Các bệnh
viện có quy mô, hoạt động chuyên khoa và cung cách quản lư khác
nhau. Khó có thể mang phần mềm đang sử dụng ở bệnh viện này áp
dụng cho bệnh viện khác.
-
Các công ty lập tŕnh phần mềm không có kiến thức về
chuyên môn và quản lư y tế. Phần mềm được viết ra không đáp ứng
đúng nhu cầu thực tế của bệnh viện. Việc khắc phục sai sót, sửa
lỗi chiếm nhiều thời gian và tiền bạc.
-
Thiếu các công ty chuyên nghiệp đầu tư cho CNTT y tế. Hầu
hết các công ty phần mềm chỉ muốn khai thác tài chính từ phần
mềm bệnh viện mà không quan tâm đến lợi ích lâu dài của khách
hàng. Khi cảm thấy tham gia CNTT bệnh viện gặp quá nhiều khó
khăn th́ các công ty này bỏ rơi bệnh viện khi phần mềm c̣n dang
dở.
-
Cơ quan quản lư không có kiến thức về CNTT, không đưa ra
được yêu cầu cụ thể về quản lư cho nhà sản xuất phần mềm thực
hiện.
-
Lănh đạo bệnh viện thiếu kiến thức và chưa hiểu ích lợi
của CNTT.
-
Bệnh viện thiếu đầu tư thỏa đáng, kinh phí hạn hẹp. |