Hậu “mắm tôm được minh oan”:
bằng chứng khoa học, nhà xí và nghiên cứu
Nguyễn Văn Tuấn
Thế là mắm tôm đă được Bộ Y tế “minh oan”. Sau cùng th́ mắm
tôm “vô tội”. Theo báo
Pháp Luật TPHCM, ngày 21/11, Thứ
trưởng Bộ Y tế Trịnh Quân Huấn cho biết: “Thịt chó,
mắm tôm không phải là nguyên nhân gây bệnh trong vụ dịch này
nữa. Mà nguyên nhân là thực phẩm tươi sống, thực phẩm nguội và
nguồn nước đang bị ô nhiễm nặng nề”. Tuy nhiên, phát biểu
minh oan này vẫn c̣n quá chậm, và sự chậm trễ này có thể đă gây
tổn hại cho nhiều cơ sở sản xuất mắm tôm và khách hàng của họ.
Trong bài này tôi sẽ nhân câu chuyện mắm tôm được minh oan để
bàn đến hai vấn đề khác: đó là vai tṛ của nhà xí và nghiên cứu
khoa học.
Vẫn cần phải
dựa vào bằng chứng!
Câu chuyện mắm tôm được xem là “thủ phạm số 1” trong vụ bộc phát
bệnh tả và tiêu chảy bắt đầu từ ngày
30/10 khi giám đốc Sở Y tế Hà Nội cho biết
“Nguyên nhân chính dẫn đến căn
bệnh này là do người bệnh ăn thực phẩm sống như: mắm tôm, mắm
tép, tiết canh, gỏi hải sản… trong đó có tới 90% số người mắc
bệnh là do ăn mắm tôm sống.” Chỉ ba ngày sau,
ngày
2/11 Bộ trưởng Bộ Y tế cho biết “Nghi phạm số một hiện
nay gây ra dịch tiêu chảy cấp là mắm tôm”
và sau đó
ban hành “Quy tŕnh xử lư dịch tả”.
Dù
chúng tôi đă lên tiếng ngay từ đầu (ngày 4/11) rằng cơ sở lí
luận để tập trung vào cấm mắm tôm không mang tính khoa học, và
một chiến lược tập trung vào chỉ một thực phẩm như mắm tôm có
thể dẫn đến sai lầm nghiêm trọng. Nói ra th́ có vẻ như “Đấy!
Chúng tôi đă nói thế”, nhưng sự thật là chúng tôi đă viết một
loạt bài bài tŕnh bày bằng chứng khoa học và sử dụng cả thống
kê học để chứng minh rằng mắm tôm không phải là “thủ phạm” gây
bệnh tả, càng không phải là nguyên nhân. Chúng tôi cũng chỉ ra
rằng nghiên cứu trên thế giới, kể cả từ Việt Nam mới công bố vào
năm 2007, cho thấy nguồn nước, thiếu vệ sinh, và thực phẩm nhiễm
trùng mới chính là các yếu tố nguy cơ liên quan đến hay gây bộc
phát dịch bệnh tả và tiêu chảy.
Thế nhưng phải đợi đến ngày 21/11, tức sau gần 3 tuần với bằng
chứng y văn trên phương tiện truyền thông đại chúng, các quan
chức y tế mới chịu “minh oan” cho mắm tôm. Như thế là quá
chậm. Sự chậm trễ này có thể đă gây tổn hại đến nhiều người,
nhất là giới sản xuất mắm tôm.
Có lẽ một số bạn đọc ngạc nhiên thấy Bộ Y tế thay đổi quan điểm
về mắm tôm, từ khẳng định thực phẩm này là “thủ phạm số 1”, là
“nguyên nhân” đến “không phải là nguyên nhân gây bệnh”, nhưng
theo tôi sự thay đổi đó rất đáng hoan nghênh. Khoa học và y học
phát triển từ những kinh nghiệm và sai lầm. Sai lầm là những
viên gạch xây dựng nên y học hiện đại như ngày nay, kể cả y tế
công cộng. Do đó, trước bằng chứng khoa học (mà chúng tôi đă
tŕnh bày) cho thấy mắm tôm không thể là nguồn vi khuẩn tả, th́
việc minh oan cho mắm tôm là một việc làm hoàn toàn logic và
theo nguyên lí của y học thực chứng (tức thực hành y khoa dựa
vào bằng chứng khoa học).
Thật ra, ngôn ngữ minh oan vẫn mang tính gượng gạo. Hăy đọc lại
phát biểu của Thứ trưởng Trịnh Quân
Huấn: “Thịt chó, mắm tôm không phải là nguyên
nhân gây bệnh trong vụ dịch này nữa.” Tại sao có
trạng từ “nữa” ở đây? Hiện nay, chúng ta đang có một vụ dịch,
và mắm tôm không phải là “nguyên nhân” (tôi sẽ quay lại danh từ
này sau). Trạng từ “nữa” hàm ư nói rằng trước đây (hay lần sau)
mắm tôm đă hay có thể sẽ là nguyên nhân? Thế th́ câu hỏi đặt ra
là: bằng chứng đâu? Bằng chứng khoa học nào cho thấy mắm tôm
từng gây ra nạn dịch bệnh trước đây?
Đề cập đến bằng chứng khoa học, tôi thấy phân vân trước phát
biểu trên của ông thứ trưởng “Mà nguyên nhân là thực phẩm
tươi sống, thực phẩm nguội và nguồn nước đang bị ô nhiễm nặng nề”,
v́ tôi chưa thấy bằng chứng nào. Trước đây, cũng cách phát biểu
này mà mắm tôm bị “buộc tội”, hi vọng lần này chúng ta sẽ được
cung cấp thêm bằng chứng cho thấy thực phẩm tươi sống và thực
phẩm nguội là nguyên nhân. Thật ra, các thực phẩm này không phải
là nguyên nhân (cause) mà là yếu tố nguy cơ (risk
factors). Tôi tin rằng không phải bất cứ ai ăn rau sống và thực
phẩm nguội đều mắc bệnh tả; chỉ có nguy cơ mắc bệnh của những
người này cao hơn những người ăn rau và thực phẩm nấu chín mà
thôi.
Cần phải phân biệt nguyên nhân và yếu tố nguy cơ. Nguyên nhân
liên quan đến lâm sàng, đến cá nhân người mắc bệnh; c̣n yếu tố
nguy cơ liên quan đến y tế cộng đồng, đến một quần thể và giúp
cho chúng ta hoạch định chiến lược pḥng bệnh. Giới phóng viên
có thể nhầm lẫn giữa nguyên nhân và yếu tố nguy cơ th́ có thể
hiểu được v́ họ không phải chuyên gia y tế hay làm khoa học.
Nhiệm vụ của các quan chức y tế và chuyên gia y tế là phải giúp
họ hiểu hai khái niệm này. Giới chức y tế mà c̣n (hơn một lần)
nhầm lẫn nguyên nhân và yếu tố nguy cơ th́ quả là một điều đáng
tiếc.
Nghiên cứu
khoa học: cẩn thận!
Nhưng bằng chứng phải được đúc kết từ nghiên cứu khoa học. Cũng
ngay từ những ngày đầu lúc bệnh bộc phát, người viết đề nghị nên
tiến hành nghiên cứu dịch tễ học để t́m hiểu về các yếu tố sinh
học gây bệnh. Tôi thấy rất phấn khích khi biết được một dự án
nghiên cứu cấp nhà nước đă được phê chuẩn. Tuy chưa đọc qua đề
cương nghiên cứu (và chắc cũng chẳng bao giờ có cơ hội đọc)
nhưng đọc qua tên của dự án (“Nghiên
cứu đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng và các giải pháp pḥng chống
dịch tả”) tôi thấy hơi phân vân và có cảm giác déjà vu.
Tôi đă thấy quá nhiều nghiên cứu, quá nhiều luận án tiến sĩ với
những cụm từ như thế này từ Việt Nam, nhiều đến nỗi tôi phải tự
hỏi “hay là dân ta hết ư tưởng”? Tôi phân vân là v́ đề tài
nghiên cứu cấp nhà nước mà có vẻ đơn giản quá, mang tính mô tả
hơn là phân tích chuyên sâu, và nhất là thiếu cái mới.
Trên thế giới đă có quá nhiều nghiên
cứu như thế này. Khi tôi vào thư viện y khoa quốc tế (PubMed)
và gơ cụm từ “risk factors of cholera” (yếu tố nguy cơ bệnh tả),
cơ sở dữ kiện cho tôi biết đă có 202 bài báo khoa học liên quan
đến đề tài này. Với y văn như thế, tôi phải đặt câu hỏi: một đề
án như thế có thể cung cấp thông tin ǵ mới cho y văn quốc tế và
Việt Nam hay không? Dịch tễ học thế kỉ 21 không nên loay hoay
với các vấn đề kinh điển như thế.
C̣n nghiên cứu giải pháp pḥng chống
dịch tả th́ cũng đă có nhiều kinh nghiệm và bài học từ Phi châu,
Nam Dương, thậm chí từ Việt Nam và Tổ chức Y tế Thế giới, vậy
th́ mục tiêu t́m giải pháp pḥng chống có ǵ mới? Vả lại khi
công tŕnh nghiên cứu thực hiện th́ dịch tả và tiêu chảy đă là
quá khứ, làm sao t́m giải pháp pḥng chống những ǵ đă xảy
ra? Do đó, cần phải xem xét lại mục tiêu cụ thể của công tŕnh
nghiên cứu trên.
Cố nhiên, phương pháp nghiên cứu và
thiết kế nghiên cứu cũng cực ḱ quan trọng. Nhà nước ắt hẳn
phải chi ra một ngân sách lớn cho công tŕnh nghiên cứu này; do
đó, cần phải xem đó là một sự đầu tư cho khoa học. Và, đầu tư
th́ cần phải đảm bảo có hiệu suất cao nhất. Ở các nước như Úc
và Mĩ, một đề cương nghiên cứu thường phải cần đến 3-6 tháng
b́nh duyệt và tái b́nh duyệt bởi các chuyên gia trong (và có khi
chuyên gia ngoài nước) trước khi được phê chuẩn. Nhưng đề cương
trên được phê chuẩn quá nhanh. Đó là một điều đáng quan tâm.
Thế th́ câu hỏi đặt ra là
cần phải nghiên cứu cái ǵ? Tôi đề nghị tập trung vào 4 định
hướng nghiên cứu sau đây:
-
Định hướng 1: nghiên cứu về các yếu tố dịch tễ phân tử
học (molecular epidemiological factors) để xác định ảnh
hưởng của các vi khuẩn và sự tương tác giữa các vi khuẩn này
với gien và môi trường đến nguy cơ mắc bệnh. Có một số biến
thể gien và nhóm máu làm cho đối tượng dễ mắc bệnh tả, nhưng
chúng ta không biết cơ chế và mối tương tác giữa các gien
này với vi khuẩn tả và các vi khuẩn khác như thế nào. Cố
nhiên, không nên tập trung chỉ vào một vi khuẩn V. cholerae,
mà c̣n phải xem xét đến các vi khuẩn và siêu vi khuẩn khác
như rotavirus nhóm A, E.
coli, Shigella spp, E. coli, và 9% salmonella, v.v… Câu hỏi
đặt ra là bao nhiêu trường hợp bệnh tả và tiêu chảy có thể
qui kết cho các tác nhân sinh học này, và chúng tương tác
với môi trường và gien ra sao. Nghiên cứu này đ̣i hỏi
kinh nghiệm chuyên sâu về dịch tễ học, vi sinh học và thống
kê học.
-
Định hướng 2: nghiên cứu về mô h́nh lan bệnh. Đặc
tính kinh điển của bệnh dịch tả là chúng lây lan rất nhanh
và có khi bộc phát cùng một lúc như chúng ta chứng kiến vừa
qua. Có nhiều câu hỏi mang tính chuyên sâu và kĩ thuật về
vấn đề này, chẳng hạn như: sự phân phối bệnh trong một hộ
gia đ́nh và giữa các hộ trong cộng đồng; yếu tố nào ảnh
hưởng đến tốc độ lây lan và phân bố của bệnh; ai là đối
tượng có nguy cơ cao; có thể phát triển mô h́nh tiên lượng
(prognostic models) để nhận ra đối tượng nguy cơ trước để
can thiệp không, v.v… Đây là một định hướng nghiên cứu quan
trọng, v́ nó cung cấp cho chúng ta các dữ liệu về sự ảnh
hưởng của môi trường và di truyền (v́ nghiên cứu trong gia
đ́nh) rất quan trọng cho chính sách y tế cộng đồng. Nghiên
cứu này đ̣i hỏi chuyên gia lành nghề về dịch tễ học, thống
kê học và y học.
-
Định hướng 3: nghiên cứu về mối tương tác đa chiều giữa
chế độ ăn uống, môi trường và môi trường sống của địa phương
(kể cả nguồn nước). Ở đây chúng ta có 3 yếu tố nguy cơ:
cá nhân, gia đ́nh, và cộng đồng. Đă có quá nhiều nghiên cứu
ảnh hưởng của từng yếu tố, nhưng chưa có nghiên cứu mối
tương tác (interaction effects) giữa các yếu tố. Khái
niệm tương tác rất quan trọng, bởi v́ bệnh dịch có nhiều yếu
tố nguy cơ và chúng tương tác nhau để gây bệnh. Chẳng hạn
như một gia đ́nh dù có giữ vệ sinh trong nhà, nhưng nếu môi
trường bị nhiễm trùng, th́ nguy cơ mắc bệnh vẫn cao. Do đó,
vấn đề đặt ra không phải là ảnh hưởng của từng yếu tố nguy
cơ, mà là ảnh hưởng của mối tương tác.
-
Định hướng 4: nghiên cứu về hiệu quả can thiệp ở qui mô
cộng đồng. Một trong những vấn đề hiện nay là nếu chúng
ta can thiệp để thay đổi lối sống và môi trường ở qui mô
cộng đồng th́ hiệu quả pḥng chống dịch bệnh là bao nhiêu?
Để trả lời câu hỏi này chúng ta cần nghiên cứu đối chứng
theo địa phương (cluster randomized trial). Mô h́nh nghiên
cứu “cluster randomized trial” rất thích hợp để giải quyết
câu hỏi trên, v́ đơn vị của của nghiên cứu là cộng đồng, chứ
không phải bệnh nhân. Tuy nhiên, nghiên cứu này đ̣i hỏi
thời gian và cần phải theo dơi cộng đồng một thời gian dài
(12 đến 24 tháng) v́ tỉ lệ phát sinh bệnh thường thấp.
Vai tṛ của
nhà vệ sinh
Nhưng kết quả nghiên cứu đ̣i hỏi thời gian. Trước mắt, chúng ta
vẫn có thể tiến hành một chiến dịch pḥng bệnh dựa vào kiến thức
trong y văn. Tôi thấy quyết định cấm sử dụng phân người để tưới
rau là hoàn toàn hợp lí và rất đáng hoan nghênh. Tuy nhiên,
chúng ta cần một chiến lược đồng bộ: bên cạnh đó, cần phải làm
sạch nguồn nước và phát động một phong trào vệ sinh cá nhân, mà
cụ thể và thiết thực nhất là tạo một thói quen rửa tay trước bữa
ăn và sau khi đi tiêu hay đi tiểu.
Trong chiến dịch này, nhà vệ sinh (toilet) đóng vai tṛ cực ḱ
quan trọng trong việc pḥng chống bệnh. Hơn một thế kỉ trước
đây, nhà vệ sinh giúp thực hiện một cuộc cách mạng về y tế công
cộng ở New York, London và Paris. Ngày nay, các quan chức y tế
Liên hiệp quốc mới nhận thức rằng cầu xí là một phương tiện
pḥng chống bệnh rất quan trọng ở các nước đang phát triển.
Nhà vệ sinh không phải là cái ǵ cấm kị không nên bàn trên giấy
trắng mực đen. Chúng ta cần trịnh trọng đặt nó lên bàn để thảo
luận nghiêm chỉnh. Phải chấp nhận một thực tế là ở nước ta, nhà
vệ sinh chưa được xem là một “cơ quan” quan trọng. Có biết bao
nhà được xây dựng hoành tráng, biết bao building (ngay cả nhà ga
máy bay) được xây lộng lẫy, nhưng phía trong th́ nhà vệ sinh th́
thật là sơ sài, bẩn thiểu, hôi thối đến nỗi trẻ em không dám
vào. Đó là chưa nói đến ở vùng quê,
chúng ta biết rằng nhiều nhà không có cầu tiêu, và
nhiều người vẫn c̣n đi tiêu ở trên
sông, ruộng, ao, hồ, và gây ô nhiễm nguồn
nước. Có quá nhiều nhà hàng, quán ăn, cơ sở công cộng mà nhà vệ
sinh là một nơi kinh khủng nhất. Mới đây báo Thanh Niên
và Người lao động có một loạt bài phản ảnh nhà xí ở
trường học ngay tại Thành phố Hồ Chí Minh dơ bẩn khủng khiếp đến
nỗi học tṛ không dám vào. Người viết bài này đă từng xem qua
các nhà xí trong các bệnh viện ở Việt Nam (từ bệnh viện nhỏ đến
bệnh viện cấp quốc gia), ngay cả nhà vệ sinh dành cho nhân viên,
bác sĩ và y tá bệnh viện, cũng rất … hăi hùng.
Hiện tượng
này hoàn toàn ngược lại với các nước tiên tiến trong vùng và Tây
phương, nơi mà nhà vệ sinh được xem là ưu tiên vệ sinh số 1 và
có mặt khắp nơi. Thật ra, ở các nước này, chính quyền có luật
bắt buộc nhà xây dựng phải có sơ đồ nhà vệ sinh cho họ kiểm tra
và duyệt trước khi tiến hành xây cất.
Người Tây phương khi đi du lịch ở nước ta và khi
về nước họ, nỗi ám ảnh lớn nhất là ... nhà vệ sinh.
Tôi đă đọc (với tâm trạng vừa giận vừa thông cảm) không biết bao
nhiêu bài bút kí, nhật kí, phóng sự, khuyến cáo, v.v... mà họ
viết ra với văn phong giễu cợt, mỉa mai, trịch thượng, và có khi
khinh miệt Việt Nam. Do đó, có lần tôi viết trên báo rằng nếu
chúng ta không cải thiện được vệ sinh công cộng và nhà xí th́
nước ta vẫn chứng kiến cảnh 75% du khác “một đi không trở lại”.
Vấn đề nhà vệ sinh và vệ sinh đă trở thành sỉ diện quốc gia,
thành vấn đề văn hóa, chứ không đơn giản là vấn đề cá nhân nữa.
Tôi nhớ đọc đâu đó lâu lắm rồi, mà trong đó tác
giả kể rằng lúc cụ Hồ c̣n sống, cứ mỗi lần đi công tác hay thăm
địa phương nào đó, bất kể là công sở hay nhà dân, điều đầu tiên
là ông vào xem cái nhà bếp và nhà vệ sinh. Một nguyên thủ quốc
gia mà quan tâm đến y tế công cộng như thế th́ chúng ta phải
biết vấn đề “đầu vào” và “đầu ra” quan trọng như thế nào. Tại
sao đến nay là thế kỉ 21 mà chúng ta vẫn c̣n tŕ trệ trong công
tác nhà vệ sinh?
Mỗi năm có đến 2 triệu trẻ em chết v́ bệnh tiêu
chảy và các bệnh khác do nguồn nước bẩn và thiếu vệ sinh gia
đ́nh. Trên thế giới ngày nay, có đến 1/3 dân số thế giới (2,6
triệu người) không có nhà tắm, hơn 1 tỉ người không có nước sạch
để uống, giặt, và nấu ăn v́ bị nhiễm trùng từ phân người và phân
thú vật. Ở nước ta, các nạn dịch bệnh cứ “đến hẹn lại lên”, và
đến nay vào thế kỉ 21, chúng ta phải nói dứt khoát rằng t́nh
trạng đó không thể chấp nhận được nữa. Và, một “vũ khí” pḥng
chống bệnh rất hữu hiệu nằm trong tầm tay chúng ta: nhà xí. Các
cơ quan chức năng của Nhà nước và người dân cần phải quan tâm
đến nhà xí hơn nữa. Phải khuyến khích, nếu cần dùng ngân sách y
tế hỗ trợ cho người dân nghèo, để mỗi nhà đều có một nhà xí tốt.
Chúng ta đă có nhà khoa học nghiên cứu về
mô h́nh nhà vệ sinh
thích hợp cho nông thôn. Có lẽ Nhà nước cần xem mô h́nh của tác
giả Lê Anh Tuấn mà tôi vừa đề cập để tiến tới một chiến dịch xây
nhà vệ sinh cho dân.
Tóm lại, tôi nghĩ việc “minh
oan” cho mắm tôm là một việc làm hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với
bằng chứng khoa học. Nhưng bằng chứng khoa học liên quan đến cơ
chế tương tác và mối liên hệ giữa các yếu tố như gien, môi
trường gia đ́nh, và môi trường cộng đồng vẫn c̣n quá thiếu
thốn. Do đó, nghiên cứu khoa học cần phải tập trung vào các vấn
đề này để một mặt góp phần vào việc pḥng chống bệnh tả của nước
ta, mặt khác cống hiến tri thức cho thế giới y khoa. Trước mắt,
đây là thời điểm lí tưởng để Bộ Y tế cần phát động một chiến
dịch làm sạch nguồn nước và xây nhà vệ sinh trên toàn quốc để
một mặt nâng cao nhận thức của cộng đồng về bệnh dịch tả và mặt
khác cải thiện t́nh trạng vệ sinh ở nước. Đây là một sự đầu tư
y tế công cộng mà chúng ta chắc chắn sẽ đem lại lợi ích lâu dài
cho xă hội và kinh tế. |