|
Mắm
tôm có phải là “thủ phạm” gây bệnh tả? Xét lại bằng chứng khoa
học
Nguyễn
Đ́nh Nguyên
Nguyễn
Văn Tuấn
Đă
ba tuần nay, từ khi dịch tiêu chảy cấp tính do vi khuẩn tả bùng
lên, đầu tiên là từ Hà Nội, sau đó lan ra các tỉnh thành xung
quanh tính đến nay đă có 14 tỉnh thành có bệnh với tổng số hơn
1700 ca (204 trường hợp xét nghiệm có vi khuẩn tả). Cho đến nay,
dù với bằng chứng không mấy thuyết phục, các giới chức y tế vẫn
khẳng định rằng mắm tôm là nguồn phát bệnh. Trong bài này,
chúng tôi sẽ phân tích mối liên hệ giữa mắm tôm và bệnh tả với
các bằng chứng khoa học cho thấy mắm tôm có thể hàm oan trong
trường hợp này.
Ngay
trong tuần đầu của đợt tiêu chảy cấp này, theo báo cáo của Sở Y
tế Hà Nội, có đến 90% số bệnh nhân kể trên đă ăn các thực phẩm
sống, chủ yếu là mắm tôm, mắm tép (1). Từ cơ sở đó, các
quan chức y tế khẳng định đây chính là nguồn truyền vi khuẩn gây
bệnh. Một quan chức mới đây lặp lại khẳng định này và cho rằng
“mắm tôm chắc chắn là nguồn lây bệnh tả trong đợt dịch tiêu
chảy này.” Ngày 7/11/2007, Bộ Y Tế ra một quyết định:
“Các địa phương có dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm lưu hành tiến
hành ngay việc ngừng mua, bán, sử dụng mắm tôm hiện là nguồn lây
truyền dịch bệnh; thực hiện thu gom tại chỗ, cách ly để xử lư
diệt mầm bệnh, không chuyên chở ra khỏi địa điểm thu gom khi
chưa được xử lư diệt mầm bệnh.”(2)
Ngay
từ thời điểm quyết định này ban hành, một số ư kiến đă phân tích
và cho thấy rằng đây là một quyết định không có cơ sở lư luận và
bằng chứng khoa học, và việc ngăn cấm mắm tôm không đáp ứng được
vấn đề ngăn chận lây lan bệnh tả trên phương diện dịch tễ học (3-5).
Thật vậy, cho đến nay, đă có ít nhất 50 mẫu mắm tôm thu thập từ
các quán ăn, chợ, nơi phân phối mắm tôm của Hà Nội, Hà Tây,
Thanh Hóa … được xét nghiệm, và tất cả đều không có nhiễm
vi khuẩn gây tả V. cholerae (6). Thế nhưng Thứ trưởng Bộ
Y tế Trịnh Quân Huấn vẫn khẳng định mắm tôm chắc chắn là nguồn
lây bệnh tả trong đợt dịch tiêu chảy này (7)!
Chúng
tôi e rằng đây là một “phán quyết” bất công và thiếu cơ sở khoa
học. Bài viết này tŕnh bày các bằng chứng khoa học nghiêng về
giả thuyết rằng mắm tôm không phải là nguồn chứa vi khuẩn tả và
không có nguy cơ lây lan mầm bệnh dịch tả cao hơn các nguồn lây
trung gian khác.
Bằng
chứng để “kết tội” mằm tôm
Trong
suốt quá tŕnh đánh giá mức độ liên đới trực tiếp của mắm tôm là
nguồn lây bệnh, chỉ có đây là bằng chứng duy nhất kết tội cho
mắm tôm, và rất kiên định từ đầu vụ dịch cho đến nay. Thứ trưởng
Trịnh Quân Huấn khẳng định rằng mắm tôm chắc chắn là nguồn lây
bệnh tả trong đợt dịch tiêu chảy này là do trong thời gian đầu,
v́ 100% bệnh nhân dương tính với vi khuẩn tả đều có “tiền sử” ăn
mắm tôm, và rồi sau đó, từ thực phẩm này, khuẩn tả đă lan sang
nước và các thực phẩm khác (7).
Nhưng
nguyên lư dịch tễ học không cho phép một kết luận như thế. Thật
vậy, cho dù 100% bệnh nhân có nhiễm vi khuẩn tả từng ăn mắm tôm,
nhưng điều đó không có nghĩa là tất cả các bệnh nhân ăn mắm tôm
đều mắc bệnh. Phân biệt hai khía cạnh này rất quan trọng trong
chính sách y tế công cộng.
Nếu
đa số những người ăn mắm tôm đều phát bệnh th́ khi đó mới có thể
nghi ngờ rằng mắm tôm là nguồn nguy cơ. Và xét nghiệm mẫu mắm
tôm tại thời điểm dịch có sự hiện diện của vi khuẩn tả là bằng
chứng xác đáng để kết luận nguồn chứa mầm bệnh. Thế nhưng trên
thực tế cho đến hiện nay, các sự kiện không xác minh được điều
đó.
Bằng
chứng để mắm tôm “kháng án”
Trong
phần này chúng tôi tŕnh bày 3 lư do khoa học để cho thấy (a)
mắm tôm không phải môi trường thuận lợi cho vi khuẩn tả tồn tại;
(b) nguy cơ lây nhiễm do mắm tôm gây ra thấp hơn các yếu tố
trung gian khác có cùng nguy cơ; và (c) các yếu tố nguy cơ khác
như nguồn nước và thức ăn tươi sống có ảnh hưởng đến bệnh tả cao
hơn mắm tôm.
Vi
khuẩn tả khó tồn tại và phát triển trong mắm tôm.
Về mặt sinh học, vi khuẩn tả (V. Cholerae O1) phát triển
trong môi trường nhiệt độ tối ưu là 37oC (dao động từ
10 đến 43oC), trong cả môi trường có không khí (“hiếu
khí”) và không có không khí (“yếm khí”) nhưng tối ưu trong môi
trường hiếu khí. Vi khuẩn tả phát triển mạnh trong môi trường
nước với nồng độ muối tối ưu là 0,5% (dao động từ 0,1 đến 4%),
và mức độ tăng trưởng cũng như số lượng vi khuẩn giảm đi rơ rệt
và thấp nhất khi nồng độ muối trong nước vượt qua ngưỡng 3% (H́nh
1). (8) Một nghiên cứu khác cho thấy với nồng độ muối
0,25% (nồng độ tối ưu) th́ vi khuẩn tả mới có thể sản sinh ra
độc tố tả (9).
Nhưng
mắm tôm có chứa nồng độ muối rất cao: dao động từ 13% đến 15%
trong mắm tôm của Malaysia và 20-25% trong mắm tôm của
Philippines (10).
Mắm tôm Việt Nam,
do qui tŕnh sản xuất, thường có nồng độ muối khá cao: với mắm
tôm lỏng chấm thịt chó, ḷng lợn, tỷ lệ muối là 15%, sau khi xay
cho vào chum (tức đă pha loăng), c̣n mắm tôm khô nồng độ muối
khoảng 25-30%. Thêm nữa, môi trường của mắm tôm là yếm khí và
khan nước. Do đó, mắm tôm là môi trường không thuận lợi cho vi
khuẩn tả cư trú và phát triển cũng như phát huy độc lực. Thật
ra, có thể nói vi khuẩn tả khó tồn tại trong mắm tôm.
Một
giả thiết được cho là khi sử dụng mắm tôm pha loăng, nên có thể
bị lây nhiễm khi sử dụng. Điều này hoàn toàn có thể xảy ra và
nguy cơ ngang bằng cho mọi loại thức ăn. Thế nhưng, đối với mắm
tôm khi sử dụng là dùng với chanh, và chanh có khả năng diệt vi
khuẩn tả rất hữu hiệu. Một thí nghiệm cho thấy với sử dụng 1
trái chanh sau 3 giờ (180 phút) không c̣n vi khuẩn nào tồn tại (11).
Một thí nghiệm khác trên cá cho nhiễm vi khuẩn V. cholerae, sau
khi cho tiếp xúc với chanh (một trái) trong ṿng 5 phút, 99,9%
số vi khuẩn bị tiêu diệt. Sau 2 giờ, không c̣n một vi khuẩn nào
tồn tại (12). Tương tự, khi bắp cải và rau xà lách được
khử (pha trộn) bằng chanh, trong ṿng 5 phút, cũng không c̣n vi
khuẩn tồn tại (13). Nghiên cứu lâm sàng về hiệu quả của
chanh ở người cũng cho thấy chanh có hiệu quả giảm nguy cơ mắc
bệnh tả đến 70%-80%. Ngay cả cà chua cũng có thể giảm nguy cơ
mắc bệnh đến 57% (11). Như vậy, mắm tôm dù đă pha loăng
nhưng có vắt chanh th́ lượng vi khuẩn tả có nhiễm cũng phải thấp
hơn nồng độ vi khuẩn tả có mặt trong các thức ăn không nấu chín
khác có cùng một nguồn nước bị nhiễm.
Do
đó, chúng tôi không hề ngạc nhiên khi biết “Viện Vệ sinh dịch
tễ Trung ương đă lấy hơn 50 mẫu mắm tôm ở nhiều nơi để xét
nghiệm t́m phẩy khuẩn tả những chưa mẫu nào cho kết quả dương
tính.” Thật ra, dựa vào các bằng chứng trên đây, chúng tôi
thấy việc gửi mẫu mắm tôm ra nước ngoài để “truy t́m” vi khuẩn
tả là một quyết định sai lầm khác.
 |
H́nh 1.
Mức độ phát triển của V. cholerae trong nước sông
đă qua lọc sau khi được điều chỉnh lượng muối NaCl (g l–1).
Tỷ lệ phát triển tối đa (h–1) of V.
cholerae ( )
và nồng độ số lượng tế bào tối đa V. cholerae ( )
đạt được theo các nồng độ muối khác nhau (8) |
Cần
nói thêm rằng nồng độ muối trong nước biển trung b́nh là 3,5%
(3,2-3,7%) (14), và trong khoảng nồng độ này vi khuẩn tả
vẫn có thể sống được nhưng không phát triển mạnh. Vi khuẩn tả
không tồn tại ở biển sâu. Do đó, vi khuẩn tả chỉ cư trú ở vùng
ven biển, nước lợ, nơi có cửa sông, nồng độ muối đă giảm.
Tỷ
lệ mắc bệnh liên quan đến ăn mắm tôm thấp. Nếu
nguồn xuất phát vi khuẩn tả là từ mắm tôm và có thể gây bệnh th́
tỷ lệ người ăn mắm tôm bị bệnh phải cao. Cho đến nay chưa có
nghiên cứu dịch tễ học nào tại Việt Nam trong thời điểm xảy ra
dịch trả lời được câu hỏi đó. Chúng tôi trưng dẫn một tỷ lệ ước
tính dựa trên quần thể dân số của 11 tỉnh thành đầu tiên có bệnh
dịch. V́ không có được con số tỷ lệ ăn mắm tôm trong dân chúng
là bao nhiêu, chúng tôi đưa ra một số tỷ lệ tiêu thụ khác nhau
từ 1% đến 30% để xác định mức độ dao động. Tỷ lệ ăn mắm tôm này
chỉ tính ở dân trong vùng dịch ở độ tuổi 15-59 được giả định là
tiêu thụ mắm tôm nhiều nhất. Dựa trên thông số toàn bộ bệnh nhân
bị tả ở thời điểm đó là 159 người đều có ăn mắm tôm, chúng ta có
thể dự đoán được rằng nếu trong dân chúng có 1% số người ăn mắm
tôm tại thời điểm bùng phát dịch th́ tỷ lệ họ sẽ bị mắc bệnh tả
là khoảng 116 người trên 100 000 người ăn. Con số này sẽ thấp
hơn rất nhiều nếu số lượng người có ăn mắm tôm cao lên (Bảng
1). Với các con số ước tính này th́ không thể kết luận được
rằng mắm tôm là đầu mối phát sinh dịch tả.
|
Bảng 1. Tỷ lệ mắc bệnh tả ước tính trong số những
người có ăn mắm tôm |
| Tỷ lệ người ăn
mắm tôm |
Số người có
nguy cơ mắc bệnh tả nếu có ăn mắm tôm
(tính trên 100 000 người) |
| 0.01 |
116 |
| 0.02 |
58 |
| 0.03 |
39 |
| 0.05 |
23 |
| 0.1 |
12 |
| 0.15 |
8 |
| 0.2 |
6 |
| 0.25 |
5 |
| 0.3 |
4 |
| Tỷ
lệ này được tính dựa trên thời điểm 8/11, có 11 tỉnh
thành có bệnh (v́ có thể sau đó người dân không ăn mắm
tôm nữa). Dân số tính trên 11 tỉnh theo số liệu của Tổng
cục Thống kê (2006) (15), chỉ tính dựa trên nhóm
tuổi 15-59 (61%) (16) là 13.746.655 người. Với
159 bệnh nhân được chẩn đoán là tả và 100% có ăn mắm
tôm. |
Các
yếu tố nguy cơ khác quan trọng hơn mắm tôm. Theo ông
Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ: “Gần như đồng loạt tất cả
các quận huyện của Hà Nội đều có dịch. Trong khi đó, các ổ dịch
lại không liên quan đến nhau. Các bệnh nhân không sống cùng
nhau, không ăn cùng nhau…Tuần đầu tiên phát dịch có 33 ổ dịch
th́ 33 bệnh nhân ăn ở những chỗ khác nhau, sống ở nhiều nơi khác
nhau.” (6)
Phát
biểu này hàm ư một yếu tố dịch tễ học rất quan trọng: nguồn lây
truyền bệnh phải là một yếu tố có khả năng phát tán đi cùng một
lúc tại một thời điểm ở nhiều vùng khác nhau. Yếu tố đó không
thể là mắm tôm (v́ nếu nguồn lây nhiễm là mắm tôm th́ nó phải
khu trú tại một vùng nào đó, chứ không thể tất cả mắm tôm đều có
chứa vi khuẩn.) Yếu tố đó rất có thể là nguồn nước bị ô nhiễm
hay do ruồi bọ.
Thật
vậy, trong một phát biểu gần đây, một quan chức y tế cao cấp cho
biết: “Khi lấy mẫu xét nghiệm ở những nơi bệnh nhân tả từng
ăn uống, chúng tôi thấy trên nước rửa tay, rau sống, thậm chí
trên các vật dụng nấu ăn như dao, thớt, th́a, bát đĩa đều có vi
khuẩn tả. Xung quanh nhà bệnh nhân, th́ nước ao hồ, nước cống
cũng vậy.” Như vậy, nguồn nước bị ô nhiễm là yếu tố rất
quan trọng (17). Điều này cũng không ngạc nhiên, v́
nghiên cứu trên thế giới từ hơn 100 năm qua cho thấy nước luôn
luôn là nguồn lan truyền bệnh tả.
Tạm
kết luận
Qua
các bằng chứng và lư giải trên, chúng tôi muốn phát biểu một số
ư kiến như sau: Thứ nhất, mắm tôm không phải là môi trường để
vi khuẩn tả phát triển và phát huy độc lực. Thứ hai, mắm tôm
pha chế có nguy cơ chứa vi trùng tả thấp hơn các loại thức ăn
khác có cùng nguy cơ. Thứ ba, nguy cơ mắc bệnh tả trong số
những người ăn mắm tôm tại thời điểm vụ dịch là rất thấp, và các
yếu tố khác như nguồn nước quan trọng hơn. Qua các bằng chứng
trên, chúng tôi đặt giả thiết rằng mắm tôm không phải là nguồn
phát sinh và lây truyền bệnh tả.
Nhưng
rất tiếc cơ quan chức trách tối cao đă quá vội vă ra quyết định
nghiêm cấm sản xuất, vận chuyển, buôn bán và tiêu thụ mắm tôm
trong mùa đang có dịch, trong khi các nguồn lây bệnh trung gian
khác đă xác định có vi khuẩn tả th́ không có hành động nào hơn
(ngoài ăn thức ăn nấu chin, uống nước đun sôi). Cho nên, nếu có
th́ “mức án cao nhất” đối với việc sử dụng mắm tôm trong mùa
dịch tả đang diễn ra cũng không nặng hơn các thức ăn tươi sống
khác là nấu chín.
Một
điểm đáng chú ư khác, quyết định này của Bộ Y tế đă đi ngược lại
với khuyến cáo của tổ chức chuyên môn cao nhất thế giới--Tổ chức
Y tế Thế giới, là không có nghiêm cấm đặc biệt nào đối với việc
sản xuất, buôn bán, trao đổi, xuất khẩu thực phẩm từ các quốc
gia các vùng đang có dịch tả lưu hành (18).
Một
quyết định vội vă và thiếu căn cứ khoa học đó có thể đă và đang
gây không ít tổn thất cho các nhà sản xuất, thương gia, tiểu
thương và người tiêu dùng trong những tuần qua. Thay v́ tập
trung nhân lực và tiền bạc vào việc truy t́m vi khuẩn tả trong
mắm tôm, chúng ta có thể tập trung vào những việc thực tế hơn và
có bằng chứng khoa học hơn, như làm sạch nguồn nước, vệ sinh gia
đ́nh và môi trường, và tiêm chủng cho những đối tượng cho nguy
cơ cao mắc bệnh tả (như trẻ em và người già đang sống trong vùng
lũ lụt) mà Tổ chức Y tế Thế giới đă khuyến cáo.
Mục
tiêu số 1 y tế và cũng là lí tưởng của y khoa là cứu người,
pḥng bệnh và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Hành
động dựa vào bằng chứng khoa học là nguyên tắc hàng đầu để hoàn
thành mục tiêu đó và giảm thiểu tác hại kinh tế. Nhầm lẫn
lâm sàng có thể chỉ gây tác hại đến một cá nhân, nhưng nhầm lẫn
về y tế công cộng có thể gây tác hại cho hàng triệu người.
Y đức không cho phép chúng ta có cái xa xỉ để nhầm lẫn như thế.
Để tránh hay giảm khả năng nhầm lẫn, thực hành y tế công cộng
dựa vào bằng chứng khoa học phải được đặt thành một tiêu chí số
1.
13/11/07
Nguyễn
Đ́nh Nguyên
Nguyễn
Văn Tuấn
Tài
liệu tham khảo
1. http://www.vnexpress.net/Vietnam/Doi-song/2007/10/3B9FBD64/.
2. Bộ Y
Tế: Quyết định số 4331/QĐ-BYT, (07/11/2007).
3. T. V.
Nguyen,
http://www.ykhoanet.com/binhluan/
nguyenvantuan/dichta_nvt_071108.htm
(2007).
4. T. V.
Nguyen,
http://www.ykhoanet.com/binhluan/
nguyenvantuan/bangchungkhoahoc_nguyenvantuan_071113.htm
(2007).
5. N. D.
Nguyen,
http://www.ykhoanet.com/
binhluan/nguyendinhnguyen/dichta05.htm
(2007).
6. http://www.tienphong.vn/Tianyon/
Index.aspx?ArticleID=101342&ChannelID=9.
7. http://www.vnexpress.net/Vietnam/Doi-song/
2007/11/3B9FC3CF/.
8. M.
Vital, H. P. Fuchslin, F. Hammes, T. Egli, Microbiology
153, 1993 (Jul, 2007).
9. M. L.
Tamplin, R. R. Colwell, Appl Environ Microbiol 52,
297 (Aug, 1986).
10. ICMSF,
in Micro-Organisms in Foods 6 (360-391, 2005) pp.
360-391.
11. A.
Rodrigues et al., Trop Med Int Health 5,
418 (Jun, 2000).
12. L.
Mata, M. Vives, G. Vicente, Rev Biol Trop 42, 479
(Dec, 1994).
13. A.
Rodrigues, H. Brun, A. Sandstrom, Am J Trop Med Hyg 57,
601 (Nov, 1997).
14. http://www.onr.navy.mil/Focus/ocean/water/salinity1.htm.
15. http://www.gso.gov.vn/default.aspx?
tabid=387&idmid=3&ItemID=6156.
16. http://www.tiscali.co.uk/reference/encyclopaedia/
countryfacts/vietnam.html.
17. http://www.laodong.com.vn/Home/sknb/
2007/11/63830.laodong.
18. WHO,
WHO guidance on formulation of national policy on the control
of cholera (1992), pp. |