- Nhiễm nấm ở da, tóc và móng do vi nấm ngoài
da và/hoặc nấm men (nấm da cạn, nấm móng, nhiễm Candida quanh móng, lang ben,
nấm da đầu, viêm nang lông do Pityrosporum, nhiễm vi nấm Candida niêm mạc và da
mãn tính) mà các trường hợp nhiễm này không thể điều trị tại chỗ được do vị trí
hoặc sự lan rộng của thương tổn, hoặc do nhiễm vi nấm sâu ở da, hay không đáp
ứng với điều trị tại chỗ.
- Nhiễm nấm men ở đường tiêu hóa.
- Nhiễm candida âm đạo tái phát, mãn tính mà
không đáp ứng với điều trị tại chỗ.
- Nhiễm nấm nội tạng như nhiễm Candida nội
tạng, nhiễm Paracoccidioides, Histoplasma, Coccidioides, Blastomyces.
- Điều trị dự phòng cho những bệnh nhân giảm
sút cơ chế đề kháng (do di truyền, do bệnh lý, hoặc do thuốc) với nguy cơ gia
tăng các nhiễm vi nấm.
Ketoconazole không thâm nhập tốt vào hệ thần
kinh trung ương, vì vậy không nên điều trị viêm màng não do nấm bằng
ketoconazole đường uống.
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
Nizoral có tiềm năng tương tác thuốc quan trọng
trên lâm sàng (xem phần tương tác thuốc với những thuốc khác và các dạng khác
nhau của sự tương tác).
- Giảm axit dạ dày : sự hấp thu giảm khi axit
dạ dày giảm. Ở bệnh nhân đang dùng thuốc trung hòa acit (ví dụ : aluminium
hydroxide) nên dùng những thuốc này ít nhất là 2 giờ sau khi uống Nizoral. Ở
những bệnh nhân vô toan như một số bệnh nhân AIDS và bệnh nhân dùng thuốc kháng
tiết axit (như chất đối kháng H2, chất ức chế bơm proton) được khuyến
cáo nên uống thuốc Nizoral cùng với nước giải khát cola.
- Sự gia tăng nhẹ, tạm thời không triệu chứng
của transaminases hay phosphatase kiềm đôi khi xảy ra. Phản ứng không triệu
chứng này vô hại và không nhất thiết phải ngưng thuốc nhưng cần phải theo dõi
sát những bệnh nhân này.
- Cần làm thử nghiệm chức năng gan khi điều trị
Nizoral kéo dài hơn 2 tuần.
- Điều quan trọng là phải nhắc nhở những bệnh
nhân điều trị dài ngày bằng Nizoral cảnh giác các triệu chứng của bệnh gan như
mệt mỏi bất thường kèm theo sốt, nước tiểu vàng, phân nhạt màu hoặc vàng da. Các
yếu tố gia tăng nguy cơ viêm gan là phụ nữ trên 50 tuổi, có tiền sử bệnh gan,
không dung nạp thuốc, và sử dụng đồng thời các thuốc khác có tác hại cho gan.
Các thử nghiệm chức năng gan nên được thực hiện ở bệnh nhân điều trị bằng
Nizoral kéo dài hơn 2 tuần (trước khi điều trị, sau hai tuần và tiếp tục sau đó
mỗi tháng một lần). Nếu các thử nghiệm này xác nhận bệnh gan, cần ngừng điều trị
bằng Nizoral.
- Trong những trường hợp bệnh không đe dọa đến
tính mạng đòi hỏi thời gian điều trị dài, cần cân nhắc giữa lợi ích và yếu tố
nguy cơ trước khi sử dụng ketoconazole.
- Ở những người tình nguyện với liều dùng mỗi
ngày là 400 mg hay cao hơn, đã cho thấy Nizoral làm giảm đáp ứng cortisol đối
với sự kích thích ACTH. Do đó, nên theo dõi sát chức năng thương thận ở bệnh
nhân suy thương thận và ở bệnh nhân bị stress kéo dài (phẫu thuật lớn, săn sóc
đặc biệt v.v.).
Ảnh hưởng trên khả năng lái xe và điều khiển
máy móc :
Không ảnh hưởng.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON
BÚ
Thuốc ảnh hưởng trên sự chuyển hóa
ketoconazole :
- Thuốc cảm ứng enzym như là rifampicin,
rifabutin, carbamazepine, isoniazid và phenytoin làm giảm đáng kể khả dụng sinh
học của ketoconazole.
- Thuốc ảnh hưởng trên axit dạ dày : xem Thận
trọng lúc dùng.
- Ritonavir làm tăng khả dụng sinh học của
ketoconazole. Do đó, khi thuốc được dùng chung, cầm xem xét việc giảm liều
ketoconazole.
Tác dụng của ketoconazole trên chuyển hóa
của những thuốc khác :
- Ketoconazole có thể ức chế sự chuyển hóa của
những thuốc được chuyển hóa bởi một số enzym P450 ở gan, đặc biệt là nhóm CYP3A.
Điều này có thể dẫn đến sự gia tăng và/hoặc kéo dài tác dụng của chúng, bao gồm
tác dụng phụ.
Ví dụ : những thuốc sau không được sử dụng
chung với ketoconazole : terfenadine, astemizole, cisapride, triazolam,
midazolam uống, quinidine, pimozide, thuốc ức chế HMG-CoA reductase được chuyển
hóa bởi CYP3A4 như là simvastatin và lovastatin.
Những thuốc sau cần theo dõi sát nồng độ trong
máu, tác dụng và tác dụng phụ. Nếu dùng chung với ketoconazole, những thuốc này
nên được giảm liều nếu cần thiết :
- Thuốc chống đông đường uống.
- Thuốc ức chế protease HIV như là ritonavir,
indinavir, saquinavir.
- Một số thuốc điều trị ung thư như là vinca
alkaloids, busulphan, docetaxel và trimetrexate.
- Thuốc ức chế canxi chuyển hóa bởi CYP3A4 như
là dihydropyridines và verapamil.
- Một số thuốc ức chế miễn dịch : cyclosporine,
tacrolimus, rapamycin.
- Các thuốc khác : digoxine, carbamazepine,
buspirone, alfentanil, alprazolam, midazolam tiêm mạch, rifabutin,
methylprednisolone và trimetrexate.
Ngoại lệ có một vài trường hợp có phản ứng khi
uống rượu, giống như uống disulfiram với đặc điểm : đỏ bừng mặt, phát ban, phù
ngoại biên, buồn nôn và nhức đầu. Tất cả các triệu chứng này sẽ hoàn toàn biến
mất trong vòng vài giờ.
TÁC DỤNG NGOẠI Ý
Những phản ứng phụ thường gặp nhất được ghi
nhận có liên quan đến việc sử dụng Nizoral là những phản ứng phụ trên đường tiêu
hóa, như là : rối loạn tiêu hóa, buồn nôn, đau bụng và tiêu chảy. Những phản ứng
phụ ít gặp hơn được ghi nhận bao gồm nhức đầu, sự tăng có hồi phục các men gan,
rối loạn kinh nguyệt, choáng váng, sợ ánh sáng, dị cảm và phản ứng dị ứng.
Những tác dụng phụ được ghi nhận với tần suất
thấp là giảm tiểu cầu, hói đầu (rụng tóc), bất lực và tăng áp lực nội sọ có hồi
phục (ví dụ : phù gai thị, thóp phồng ở trẻ nhũ nhi).
Trong một số rất ít các trường hợp, với liều
lượng cao hơn liều điều trị 200 mg và 400 mg mỗi ngày, người ta quan sát thấy
chứng vú to và thiếu sản tinh trùng có hồi phục.
Ở liều điều trị 200 mg mỗi ngày, người ta có
thể thấy sự giảm tạm thời nồng độ testosterone trong huyết tương. Nồng độ
testosterone trở về bình thường trong vòng 24 giờ sau điều trị Nizoral. Trong
thời gian điều trị lâu dài ở liều điều trị, nồng độ testosterone trong máu
thường không khác biệt so với nhóm chứng.
Trong thời gian dùng Nizoral, viêm gan (đa số
do đặc ứng) có thể xảy ra. Tình trạng này thường hồi phục nếu ngưng ngay việc
dùng thuốc.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Nizoral nên được uống trong bữa ăn để được hấp
thu tối đa.
Điều trị :
Người lớn :
- Nhiễm nấm da, nhiễm nấm đường tiêu hóa và nấm
nội tạng: Một viên (200 mg) mỗi ngày một lần trong bữa ăn. Khi không đạt được
đáp ứng đầy đủ ở liều này, liều dùng nên được tăng lên thành hai viên (400 mg),
mỗi ngày một lần trong bữa ăn.
- Nhiễm candida âm đạo : hai viên (400 mg), mỗi
ngày một lần trong bữa ăn.
Trẻ em :
- Trẻ em cân nặng từ 15-30 kg : 100 mg mỗi ngày
một lần trong bữa ăn.
- Trẻ em cân nặng trên 30 kg : liều giống như
người lớn.
Nói chung, việc điều trị nên được tiếp tục,
không gián đoạn đến khi ít nhất 1 tuần sau khi tất cả các triệu chứng đã biến
mất và đến khi tất cả các mẫu cấy đều chuyển sang âm tính.
Điều trị phòng ngừa ở những bệnh nhân suy giảm
miễn dịch :
- Người lớn : 2 viên (400 mg) mỗi ngày.
- Trẻ em: 4-8 mg/kg mỗi ngày một lần.
Thời gian điều trị thông thường là :
- Nhiễm Candida âm đạo : 5 ngày kế tiếp nhau.
- Nhiễm nấm da do vi nấm ngoài da : khoảng 4
tuần.
- Lang ben : 10 ngày.
- Nhiễm nấm ở miệng và da do Candida : 2-3
tuần.
- Nhiễm nấm tóc : 1-2 tháng.
Nhiễm nấm móng : 6-12 tháng, được xác định bởi
tốc độ phát triển của móng, đòi hỏi phải đạt được sự phát triển ra ngoài một
cách đầy đủ của móng bị nhiễm nấm.
- Nhiễm nấm Candida nội tạng : 1-2 tháng.
- Nhiễm nấm Paracoccidioides, Histoplasma,
Coccidioides: thời gian điều trị tối ưu là 3-6 tháng.
QUÁ LIỀU