Thắc mắc biết hỏi ai (phần 33)
Thế nào là đồng tính ái?
Tuyệt đại đa số nhân loại đều dị
tính ái, chỉ có thể quan hệ với người khác giới. Khoảng 1-2% là đồng
tính ái, chỉ quan hệ với người đồng giới. Đối với y học, trước đây
thực trạng này vẫn được coi như một dạng tâm thần do bẩm sinh, mà
thái độ xử trí rất ba phải:
- Nếu là đồng tính ái thật sự
(rất hiếm) th́ không chữa trị được, và không cần chữa trị ǵ cả.
- C̣n nếu là đồng tính ái “dởm”
(đại đa số những trường hợp hiện nay) do a dua, bon chen, tưởng
tượng… hoặc v́ lư do kinh tế (mại dâm nam) th́ khỏi cần chữa trị, v́
nó sẽ tự động hết, “oải quá” rồi th́ cũng phải hết.
Từ tháng 1/1993, Tổ chức Y tế Thế
giới đă loại đồng tính ái ra khỏi danh mục quốc tế về bệnh tật ở
loài người.
Nhớ lại, vào năm 1981, những
trường hợp AIDS đầu tiên đă được phát hiện trong giới đồng tính ái
Mỹ, và cho đến năm 1985, bệnh hoành hành chủ yếu tại những nhóm có
nguy cơ cao gồm đồng tính ái, tiêm chích x́ ke, mại dâm… Ở thời điểm
này, một số người chết oan v́ cứ tưởng chỉ đồng tính ái mới bị AIDS,
nên đă quan hệ nam nữ quá thoải mái.
Hiện nay, chẳng c̣n nhóm nào là
nguy cơ cao nữa. Mọi người đều “b́nh đẳng” trước cơn đại họa, nam
phụ lăo ấu, đồng tính ái hay dị tính ái đều như nhau, và chỉ có Hành
vi nguy cơ mà thôi.
Chương tŕnh toàn cầu về AIDS của
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO/GPA) đă cho rằng những người đồng tính ái
phải có đầy đủ quyền được tôn trọng cuộc sống riêng tư, được thông
tin và chăm sóc về sức khỏe như mọi người. Đây là một phần việc để
cuộc chiến đấu chống lại AIDS trở nên hữu hiệu. Ngoài ra, vị trí
đáng kể của người đồng tính ái trong công tác pḥng chống AIDS cũng
chính thức được xác nhận.
Do “đi tiên phong” nên HIV/AIDS
đối với họ luôn luôn là mối đe dọa thường xuyên, một bóng ma ám ảnh
mà bất cứ người nào cũng có ư thức và cùng chia sẻ. Điều này khiến
cho họ thương yêu nhau hơn (v́ cùng chung cảnh ngộ) và biết tự bảo
vệ cho nhau bằng “bao cao su”. Hầu như ai cũng từng có “bạn bè” hoặc
quen biết một người nào đó bị AIDS. Và thế là giới đồng tính ái đă
trở thành nhóm nguy cơ thấp nhờ hiểu rơ vấn đề, biết thông tin và
giáo dục, chỉ bảo cho nhau cách pḥng ngừa, hạn chế được sự “lây lan
nội bộ”.
Ngược lại, với người dị tính ái,
biết ḿnh đang bị nhiễm HIV là t́nh trạng “không thể nào mô tả nổi”.
Việc đầu tiên, họ cố t́m hiểu tại sao, ở đâu, do ai, hồi nào? Một cô
bạn cũ lâu ngày gặp lại? Một phụ nữ mới quen “dễ tính”? Hay một buổi
nhậu nhẹt “mát mẻ” nào đó? Ở những người này, hầu như không bao giờ
có chuyện “chia sẻ” như giới đồng tính ái. V́ khác với người đồng
tính ái thường xuyên thay đổi đối tượng, cặp vợ chồng dị tính ái về
bản chất là muốn “ăn đời ở kiếp với nhau”. Vậy nên làm sao dám thú
nhận với bà xă, hoặc thảm khốc hơn, ông xă. Làm sao giải thích “cho
xuôi tai” việc tự nhiên đ̣i mang bao cao su? Bằng cách nào có thể
đưa vợ (hay chồng) đi xét nghiệm? Và có tiếp tục quan hệ vợ chồng
nữa hay không?... Những câu hỏi này gây đau đầu cho những người HIV
dương tính. Đó là chưa kể chấn động tâm lư của bản án tử h́nh đă
tuyên.
Tại nhiều nước, một số phụ nữ cảm
thấy cái chết trước mắt đă đột nhiên muốn tạo nên hoặc để lại sự
sống, tức là mang thai. Họ thường nhanh chóng có bầu, tuy đă được
giải thích đầy đủ về nguy cơ nhiễm bệnh cho thai nhi. Điều này tất
nhiên là khó thể xảy ra với người đồng tính ái, ngay cả ở đồng tính
ái nữ.
Như vậy, tuy hiện nay bất cứ ai,
ở bất cứ giới nào cũng có thể nhiễm HIV từ các hành vi nguy cơ,
nhưng vẫn có những khác biệt rất lớn giữa hai “thành phần cơ bản của
nhân loại”. Tất nhiên là thành phần nào đông hơn th́ cũng phức tạp
hơn, và con người phải chuẩn bị để sống lâu dài với đại họa đa dạng
và vô cùng khó hiểu này.
Hiện tại, vẫn chỉ có cách pḥng
ngừa mà thôi.