www YKHOANET

CHUYÊN ĐỀ GIỚI TÍNH

Nghiên cứu t́nh dục học

Thắc mắc biết hỏi ai

Giới tính

Sách giáo dục giới tính

Sức khỏe t́nh dục

Tṛ chuyện về t́nh dục

HIV/AIDS

Bệnh của cơ quan sinh dục

 

GIÁO DỤC GIỚI TÍNH Ở TUỔI VỊ THÀNH NIÊN

BS. HỒ MẠNH TƯỜNG

(Theo Contraception and Sexuality in Adolescence của K.E. Sapire)

Một phần ba dân số thế giới ở vào độ tuổi từ 10 đến 24 tuổi; và 4 phần 5 dân số này hiện sống ở các nước đang phát triển. Từ trước đến nay, các chương tŕnh về sức khỏe của đối tượng thanh niên trẻ ít khi được định hướng ưu tiên, bởi v́ hầu hết các thống kê về y tế đều cho thấy tỷ lệ bệnh tật và tử vong có khuynh hướng thấp đối với thanh niên. Gần đây, với quan niệm rộng hơn và có chiều sâu hơn về sự phát triển về nhân cách vị thành niên và các hậu quả lâu dài của nó đă đặt ra nhiều tranh căi, đ̣i hỏi phải ưu tiên cho những chương tŕnh phục vụ các yêu cầu bức thiết đảm bảo sự phát triển lành mạnh về thể chất và tinh thần của lứa tuổi này.

Vị thành niên là một giai đoạn phát triển rất nhanh về thể chất, tâm sinh lư và tinh thần. Nhiều vấn đề về sức khỏe ở người lớn xuất phát từ những thói quen dung nhập trong giai đoạn vị thành niên, như hành vi t́nh dục, rượu chè, ma túy... Trong thời buổi bùng nổ thông tin như hiện nay, các giá trị văn hóa phương Tây xâm nhập vào từng thành phố, làng mạc ở các nước thứ ba, làm thay đổi và ảnh hưởng rất nhiều đến suy nghĩ và hành vi của lứa tuổi vị thành niên. Các em đi kiếm t́m những giá trị từ bố mẹ, thầy cô, bạn bè cùng lứa, ngôi sao điện ảnh, ngôi sao nhạc nhẹ... để tự khẳng định ḿnh. Trong bối cảnh đó, sức khỏe vị thành niên là một trong những thách thức nghiêm trọng nhất đối với những nhà hoạch định chiến lược phát triển. Bên cạnh những đặc điểm về số lượng dân số của lứa tuổi này, về tính cấp thiết và đặc thù của các nhu cầu sức khỏe của các em, chúng ta phải nh́n thấy rằng tương lai của trẻ vị thành niên là tương lai thật sự của nhân loại.

Người ta ước tính trên thế giới có khoảng 500 triệu trẻ vị thành niên sẽ đối mặt với sự chọn lựa hành vi t́nh dục vào năm 2000. Nhiều triệu trong số đó bước vào tuổi hoạt động t́nh dục với nguy cơ có thai ngoài ư muốn, AIDS và các bệnh lây truyền qua đường t́nh dục (BLTĐTD) khác. Rất nhiều lớn không chấp nhận một thực tế là con cái họ đang ở tuổi hoạt động t́nh dục, mặc dù nhiều nghiên cứu cho thấy rằng bất chấp ràng buộc về văn hóa, tập tục, tôn giáo, phần lớn đều bắt đầu có hoạt động t́nh dục, dưới các h́nh thức khác nhau, trước tuổi 20. Ở hầu hết các quốc gia, trường học, chính phủ và bố mẹ vẫn chưa cung cấp cho trẻ vị thành niên những thông tin cần thiết để chúng có thể có những quyết định và hành vi đúng đắn, ảnh hưởng đến tương lai về sức khỏe sinh sản của chính ḿnh.

Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động t́nh dục của trẻ vị thành niên

Có sự khác biệt giữa lứa tuổi từ 13 đến 17 và lứa tuổi trên 18 về hành vi t́nh dục, ngừa thai và sự chấp nhận nguy cơ. Lứa tuổi dưới 17 có khuynh hướng ít chú ư đến những ảnh hưởng lâu dài do hành động của ḿnh gây ra. Lứa tuổi này thường thiếu kiến thức về các phương pháp ngừa thai, dễ có thai ngoài ư muốn, dễ mắc bệnh lây truyền qua đường t́nh dục. Đồng thời lứa tuổi này cũng dễ bị chấn động về tâm lư.

Tuổi dậy th́ diễn ra với các thay đổi về nội tiết, dinh dưỡng và cơ thể nói chung. Dậy th́ hiện nay diễn ra ngày càng sớm, làm tăng khoảng thời gian sinh sản của người phụ nữ. Khả năng có con về mặt sinh học diễn ra sớm hơn khi các em chưa trưởng thành về mặt trí tuệ, tâm lư và xă hội để có thể làm mẹ.

Thông tin đại chúng hiện nay ngày càng nhiều h́nh ảnh về sex, bạo lực, hút thuốc, uống rượu, ma túy... Thời trang và các buổi biểu diễn thời trang, thi hoa hậu... tŕnh bày những kiểu thời trang theo khuynh hướng khêu gợi, ở trang phục cũng như cách biểu diễn. Thông tin đại chúng cần hướng từng cá nhân chú ư xây dựng cho ḿnh những giá trị tinh thần bên trong hơn là h́nh thức bên ngoài.

Thông tin đại chúng thường tránh né các vấn đề về t́nh dục vị thành niên, dẫn đến những thông tin nhiều mâu thuẫn và không rơ ràng. Do đó thông tin đại chúng không đáp ứng được nhu cầu của lứa tuổi vị thành niên và sức khỏe sinh sản.

Các yếu tố liên quan đến gia đ́nh có tác động xấu đến hành vi t́nh dục của trẻ vị thành niên bao gồm: tŕnh độ học vấn thấp, gia đ́nh đông con thiếu chăm sóc, t́nh trạng văn hóa xă hội thấp, nghiện rượu, gia đ́nh có người có thai trước hôn nhân (mẹ, chị), cha mẹ ly hôn...

Trẻ vị thành niên thành công trong học vấn, có kế hoạch lâu dài cho việc học tập, say mê công việc thường có khuynh hướng chú ư đến hệ quả của hành vi t́nh dục; có kế hoạch cho việc lập gia đ́nh, có con.

Giáo dục giới tính

Giáo dục giới tính tốt nhất là từ cha mẹ, nếu cha mẹ yêu thương, tôn trọng lẫn nhau, ḥa hợp trong cuộc sống gia đ́nh, cởi mở và chân t́nh với con cái.

Giáo dục giới tính là một quá tŕnh lâu dài để có được những thông tin chính xác, nó giúp h́nh thành thái độ, niềm tin và những giá trị về bản ngă, về các mối quan hệ t́nh cảm. Giáo dục giới tính bao gồm nhiều nội dung: sự phát triển của giới tính, sức khỏe sinh sản, các mối quan hệ cá nhân, t́nh cảm, về ngoại h́nh, về vai tṛ của giới. Giáo dục giới tính giúp trẻ vị thành niên có một quan điểm tích cực về t́nh dục, đồng thời cung cấp các thông tin và kỹ năng để trẻ vị thành niên có được thái độ và hành vi đúng, hiểu biết và có trách nhiệm về những quyết định của ḿnh. Các chương tŕnh giáo dục giới tính cần sự phối hợp giữa nhà trường, gia đ́nh và xă hội.

Một số quan điểm lo ngại rằng nếu cung cấp cho trẻ vị thành niên những thông tin và giúp chúng pḥng ngừa có thai và các bệnh lây truyền qua đường t́nh dục sẽ vô t́nh thúc đẩy trẻ có hoạt động t́nh dục sớm và bừa băi. Tuy nhiên, thực tế thực hiện giáo dục giới tính ở nhiều nước cho thấy hoàn toàn ngược lại. Tổ chức y tế thế giới đă khảo sát 19 chương tŕnh giáo dục giới tính trường học ở nhiều nước, tất cả đều cho thấy trẻ vị thành niên có hoạt động t́nh dục trễ hơn, giảm hoạt động t́nh dục, biết cách sử dụng các biện pháp ngừa thai một cách hiệu quả, và hoàn toàn không thúc đẩy trẻ có hoạt động t́nh dục sớm và nhiều hơn. Giáo dục giới tính hiệu quả nhất khi thực hiện trước khi trẻ bước vào tuổi hoạt động t́nh dục. Các bước tích cực này sẽ giúp khuyến khích trẻ không hoạt động t́nh dục sớm và biết cách sinh hoạt t́nh dục một cách an toàn, giảm thiểu thai ngoài ư muốn ở các em.

Cha mẹ, tham vấn ở học đường, thầy cô, bác sĩ, y tá, đoàn thể thanh niên, thông tin đại chúng là những đối tượng sẽ phối hợp một cách tích cực trong các chương giáo dục giới tính cho trẻ. V́ hầu hết người lớn chưa có được những kỹ năng để tham vấn chính xác và có hiệu quả, cần có những chương tŕnh huấn luyện cho các đối tượng trên về các vấn đề liên quan đến t́nh dục ở trẻ vị thành niên, biết cách giáo tiếp một cách cởi mở, chân thành, tôn trọng và có hiệu quả với trẻ.

Thách thức trong tương lai

Để thật sự giúp đỡ thanh niên ngăn ngừa có thai ngoài ư muốn, cần phải tạo điều kiện cho trẻ vị thành niên hiểu biết về t́nh dục, về nguy cơ có thai, cách thức ngăn ngừa có thai ngoài ư muốn, và biết những nơi có thể tham vấn về t́nh dục trước khi chúng bắt đầu sinh hoạt t́nh dục. Việc cung cấp dịch vụ ngừa thai cần được tổ chức để có thể đến được đối tượng thanh niên trẻ. T́nh trạng có thai sớm ngoài ư muốn phần lớn có thể dự pḥng và giảm đáng kể nếu chúng ta chấp nhận rằng vị thành niên là đối tượng bắt đầu hoạt động t́nh dục và cung cấp cho các em đầy đủ thông tin và phương tiện để ngừa thai. Bằng không, việc có thai ngoài ư muốn và t́nh trạng phá thai ở thanh niên trẻ sẽ tiếp tục gia tăng với những hệ lụy nguy hiểm cho từng cá nhân và xă hội.

Cuộc sống hoàn toàn không dễ dàng đối với trẻ vị thành niên, nhất là trong hoàn cảnh kinh tế xă hội hiện nay, đặc biệt đối với những trẻ không được chuẩn bị đầy đủ để đối mặt với các vấn đề đặc thù của lứa tuổi. Thực trạng hiện nay đă và đang cho thấy điều đó. Nếu chúng ta mong đợi trẻ vị thành niên những quyết định đúng đắn, có trách nhiệm trước những cạm bẫy và thách thức của xă hội, chúng ta phải đảm bảo trẻ vị thành niên được cung cấp đầy đủ thông tin, kỹ năng và phương tiện để quyết định và các giá trị chúng cần tôn trọng và thực hiện. Chúng ta cần nhận thức rằng đă đến lúc để đặt kế hoạch cho tương lai và chúng ta hoàn toàn có thể thực hiện được điều đó.

 

BS PHAN XUÂN TRUNG

"Lăng tử giữa thương trường"


 WHO definition of HEALTH:
Health is a state of complete physical, mental and social well-being and not merely the absence of disease or infirmity.


Hệ thống phần mềm quản lư bệnh viện
YKHOA.NET

 

 

Website YKHOANET.COM khai trương ngày 24/12/2000

Website YKHOANET - Y KHOA VIỆT NAM
www.ykhoanet.com www.ykhoa.net 

Gởi bài cho YKHOANET phanxuantrung@ykhoa.net