Tỏi, một số hiệu quả kỳ diệu và những điều cần lưu ư
Lương y VƠ HÀ
Trong những thập niên gần đây, khi tỷ lệ
bệnh tim mạch gia tăng nhiều ở các nước phát triển, tỏi đă được
xem là một loại thực phẩm chức năng có gía trị hàng đầu trong
việc chống oxy hoá, bảo vệ màng tế bào, giảm cholesterol, giảm
huyết áp dể pḥng chống các loại bệnh tim mạch.
Tỏi là một gia vị thông dụng của mọi gia
đ́nh. Từ thời cổ đại ở Ai Cập, người ta đă biết dùng tỏi để làm
thuốc sát trùng trong các loại bệnh hen suyển, viêm phổi, nhiễm
trùng đường ruột. Kinh nghiệm dân gian nhiều nơi cũng biết dùng
tỏi để sát trùng ngoài da, chữa ḅ cạp, rết cắn, chữa mụn cóc,
hạt cơm mọc trên da. Trong những thập niên gần đây, cùng với
sự phát triển của 2 loại bệnh tim mạch và ung thư, các nhà khoa
học đặc biệt quan tâm đến tác dụng chống oxy hoá, chống đột biến
tế bào, hạ độ mỡ trong máu và làm giảm nguy cơ máu đông của một
số hoạt chất trong tỏi.
Thành phần, dược tính.
Tỏi có 3 hoạt chất chính allicin và liallyl
sulfide và ajoene. Allicin là hoạt chất mạnh nhất và quan
trọng nhất của tỏi. Allicin không hiện diện trong tỏi. Tuy
nhiên, khi được cắt mỏng hoặc đập dập và dưới sự xúc tác của
phân hoá tố anilaza, chất aliin có sẳn trong tỏi biến thành
allicin. Do đó, càng cắt nhỏ hoặc càng đập nát, hoạt tính
càng cao. Một kư tỏi có thể cho ra từ 1 đến 2 gam
allicin. Allicin dễ biến chất sau khi được sản xuất ra. Càng
để lâu, càng mất bớt hoạt tính. Đun nấu sẽ đẩy nhanh quá tŕnh
mất chất nầy. Đun qua ḷ vi sóng sẽ phá huỷ hoàn toàn
chất allicin. Allicin là một chất kháng sinh tự nhiên
rất mạnh, mạnh hơn cả penicillin. Nước tỏi pha loăng 125.000 lần
vẫn có dấu hiệu ức chế nhiều loại vi trùng gram âm và gram dương[i]
như saphylococcus, streptococcus, samonella, V. cholerae, B.
dysenteriae, mycobacterium tuberculosis. Tỏi cũng ức chế sự phát
triển của nhiều loại siêu vi như siêu vi trái ra, bại liệt, cúm
và một số loại nấm gây bệnh ở da hoặc bộ phận sinh dục nữ như
candida.
Liallyl sulfide không mạnh bằng allicin[ii].
Tuy nhiên, sulfide không hư hoại nhanh như allicin và vẫn giữ
được dược tính khi nấu. Giống như allicin, càng giă nhỏ càng
sinh ra nhiều sulfide, nếu nấu nguyên củ tỏi sẽ không có hiệu
lực. Tỏi không chỉ có tác dụng kháng sinh, tác dụng trên
hệ tim mạch mà c̣n có hiệu lực trên tế bào ung thư.
Những nghiên cứu của Trung Quốc và Ư được phổ biến trong tạp chí
British Journal of Cancer số tháng 3/1993 cũng cho biết tỏi có
nhiều hoạt chất có thể ngăn chận sự phát triển của nhiều loại
khối u ung thư. Theo các nhà khoa học trường Đại học Pensylvania
khả năng ngăn chận khối u ung thư của tỏi liên quan đến các hợp
chất S-allyl cysteine, diallyl disulfide và diallyl trisulfide.
Một hoạt chất khác ít được nhắc đến là ajoene. Ajoene cũng có
tác dụng làm giảm độ dính của máu. Ngoài ra, tỏi c̣n có hàm
lượng khoàng chất selenium, một chất chống oxy hoá mạnh làm tăng
khả năng bảo vệ màng tế bào, pḥng chống ung thư và bệnh tim
mạch của tỏi.
Theo Đông y, tỏi vị cay, tính ấm, hơi có
độc, vào 2 kinh Can, Vị. Tỏi có tác dụng thông khiếu, giải
phong, sát trùng, giải độc, tiêu nhọt, hạch.
Tỏi và bệnh tim mạch.
Một công tŕnh nghiên cứu về tỏi đă từng
được phổ biến trên tạp chí Praxis ở châu Âu. Bác sĩ Piotrowski
thuộc trường Đại học Geniva qua nghiên cứu[iii]
trên 100 bệnh nhân cao huyết áp đă cho biết huyết áp trên các
đối tượng nầy bắt đầu hạ sau 1 tuần được điều trị với dầu tỏi.
Liều dùng giảm dần xuống trong 2 tuần kế tiếp, theo sau là
liều duy tŕ.
Một bài viết khác trên tạp chí Lancet
(31.5.1975) của Tiến sĩ R.C. Jain, M.D. thuộc trường Đại học
Benghzi, Lybya cũng đề cập đến một nghiên cứu về tác dụng hạ mỡ
máu của tỏi được kiểm chứng trên những con thỏ thí nghiệm. Một
nhóm thỏ được nuối bằng chế độ ăn nhiều mỡ để mức cholesterol
toàn phần tăng vọt đến 2.100. Một nhóm thỏ khác ăn cùng loại
thức ăn trên nhưng được bổ sung thêm chất trích xuất từ tỏi th́
mức cholesterol trung b́nh chỉ khoảng 419. Những nhà khoa học
cho rằng độ cholesterol nầy vẫn c̣n cao so với b́nh thường. Tuy
nhiên hiệu quả cải thiện mỡ trong máu của tỏi là rất rơ ràng.
Bác sĩ Jain cũng cho biết những măng xơ vữa trong những con thỏ
được dùng tỏi không nghiêm trọng như ở những con thỏ không dùng
tỏi.
Một nghiên cứu của một nhóm nhà khoa học Ấn
độ trên những đối tượng khoẻ mạnh được cho dùng khoảng 2 ounce
(khoảng 57g) tỏi hoặc lượng chất chiết xuất tỏi tương đương th́
độ cholesterol giảm trung b́nh từ 229 xuống c̣n 213 trong ṿng 3
giờ đồng hồ. Ở một nghiên cứu khác, một số đàn ông bị áp huyết
cao trung b́nh được dùng những viên tỏi. Kết quả cho thấy những
người nầy không chỉ hạ được độ cholesterol mà c̣n hạ được áp
huyết trong ṿng từ 10 đến 40 ngày. Một báo cáo của các nhà
khoa học trường Đại học Newyork cũng cho biết những người ăn
hàng ngày từ ½ đến 1 củ tỏi trong ṿng từ 8 đến 24 tuần có thể
hạ độ cholesterol xuống khoảng 9%.
Cơ chế tác dụng của tỏi trên hệ tim
mạch. Tỏi làm hạ cholesterol bằng cách gia tăng sự đào
thải cholesterol và làm giảm sự hấp thụ cholesterol xấu qua màng
ruột qua đó làm giảm độ lipid trong máu. Hoạt chất của tỏi có
tính chất gần giống như nội tiết tố prostaglandin PGI2 vừa nở
mạch vừa ngăn chận quá tŕnh kết tập tiểu cầu nên có tác dụng
hạ cao huyết áp. Chất ajoene trong tỏi cũng làm giảm nồng độ
fibrinogen trong máu giúp giảm nguy cơ nghẽn mạch. Trong các
loại bệnh xơ vữa động mạch, các gốc tự do làm gia tăng sự oxy
hoá những tế bào LDL ở thành mạch máu tạo thành măng bám gây
cứng động mạch và làm hẹp ḷng mạch. Tỏi là một loại gia vị có
những chất chống oxy hoá mạnh nhất trong số các gia vị thông
thường, có thể ngăn chận quá tŕnh nầy.
Rượu tỏi giảm mỡ máu, hạ cao huyết áp.
Tỏi là một vị thuốc có tính nóng. Có một số trường hợp dùng
rượu tỏi chữa cao huyết áp sau khi giảm một thời gian huyết áp
đă lại cao trở lại. Do đó, việc dùng lâu dài cần phải phải
linh động gia giảm tuỳ theo cơ địa hàn nhiệt và điều kiện của
mỗi người. Sau khoảng 2 hay 3 tuần, người bệnh phải giảm dần
liều dùng và lưu ư dùng liều thấp hơn đủ để duy tŕ hiệu quả
điều trị. Ngoài ra, việc điều trị cao huyết áp và pḥng ngừa
bệnh tim mạch cần được phối hợp với chế độ ăn nhiều chất xơ, ít
chất béo băo hoà trong các loại thịt động vật và tăng cường vận
động chớ không nên chỉ dựa vào tỏi. Sau đây là một công thức
ngâm rượu tỏi để chữa cao huyết áp hoặc làm hạ độ cholesterol
trong máu. Dùng 300g tỏi. Sau khi bóc vơ và xắt lát mỏng, ngâm
tỏi trong 600g rượu trắng khoảng 40o. Sau 2 tuần chắt rượu ra
để dùng. Mỗi ngày dùng 2 lần, mỗi lần từ 15 đến 20 giọt. Sau
khi dùng khoảng 2 hoặc 3 tuần nên theo dơi huyết áp để giảm dần
liều dùng xuống liều duy tŕ.
Sau đây là một vài cách sử dụng tỏi thông thường.
Pḥng và trị cúm. Giă nát 3
tép tỏi, hăm trong 50g nước sôi khoảng nửa giờ. Chắt lấy nước,
nhỏ vào mũi mỗi bên khoảng 2 hay 3 giọt, ngày 2 hoặc 3 lần.
Rửa vết thương, chỗ lở loét..
Pha loăng 1 phần dịch tỏi và 10 phần nước cất, thêm 2% cồn để
bảo quản. Kinh nghiệm của bác sĩ Taghiep (Nga) cho biết dùng
nước tỏi chữa nhiễm trùng do bỏng sau 12,5 ngày th́ lành trong
khi điều trị với penicillin và sulfamid phải mất 14,5 ngày.
Chữa đau răng. Giă nát 2 tép
tỏi trộn với một chút nước ấm. Đợi khoảng 10 phút sau, dùng một
que tăm tẩm dịch tỏi thấm đều chung quanh chỗ đau.
Chữa mụn cóc, chai chân. Giă
nát 2 tép tỏi, dán gọn vào chỗ bị chai và để qua đêm.
Chữa viêm họng. Giă nát 2
tép tỏi, trộn 1 phần tỏi và 3 phần hành lá, buộc vào huyệt Hợp
cốc ở bàn tay. Để qua đêm. Dịch tỏi sẽ thấm qua da và kích
thích mạnh vào huyệt có tác dụng “tả”để chữa viêm họng. Hành lá
có tác dụng làm giảm độ nóng để tránh phồng da. (Úp bàn tay
xuống, xoè rộng 2 ngón tay trỏ và ngón tay cái, huyệt hợp cốc
nằm trên mặt lưng của bàn tay, ở chỗ lơm giữa 2 xương ngón tay
cái và ngón tay trỏ.)
Kiện Tỳ, bổ khí, sinh tinh, chữa áp
huyết thấp. Gà hấp cách thuỷ với tỏi. Dùng 1 con gà
khoảng nửa kư, 40g tỏi thái mỏng, nửa chén rượu vang, gia vị vừa
đủ. Gà làm sạch, bỏ lông và nội tạng. Hấp cách thuỷ, ăn trong
ngày. Không dùng cho người thể tạng nhiệt, nóng sốt hoặc đang
bị các chứng viêm nhiễm đang phát triển.
Lưu ư. Do có tính
nóng và tác dụng hành khí mạnh, cẩn thận khi dùng tỏi cho người
đang có thai, đang nóng sốt, nhiễm trùng chân răng, viêm xoang.
Tỏi cũng có thể gây dị ứng làm ngứa ngáy, nổi mẩn ở một số
người. Ngoài ra, người sắp được phẫu thuật không nên dùng tỏi
v́ tỏi có khả năng làm thay đổi ảnh hưởng của các thuốc chống
đông máu được dùng trong giải phẫu. Một nghiên cứu c̣n cho biết
dùng tỏi có thể gây phản ứng phụ nguy hiểm đối với những người
đang điều trị HIV/AIDS[iv].
[i] Phạm hoàng Hộ. Cây có vị thuốc ở
Việt Nam. NXB Trẻ. 2006. Tr. 608
[iii] Mark Bricklin. The practical
Encyclopedia of Natural Healing. Rodale Press. Tr.204
|