Pḥng chống đái tháo
đường bằng liệu pháp tự nhiên
Lương y VƠ HÀ
Một
số biện pháp tự nhiên bao gồm ăn uống nhiều thực phẩm thô, ít
đường, ít chất béo và
vận động đều đặn không chỉ giúp pḥng ngừa mà c̣n có thể
đảo ngược t́nh trạng bệnh lư giúp người bệnh dái tháo
đường từng bước giảm dần sự lệ thuộc vào chế độ dùng thuốc.
Đái tháo đường (ĐTĐ)
là một h́nh thức rối loạn chuyển hoá
đường trong cơ thể khiến lượng đường trong máu tăng cao và một
phần khác bị đào thải ra ngoài qua nước tiểu. Do đó người bệnh
thường ăn nhiều uống nhiều, đi tiểu nhiều và dễ mệt mỏi. Bệnh
thuộc phạm vi chứng tiêu khát của y học cổ truyền.
Ngoài một số rất ít trường hợp đặc thù, người ta thường phân
biệt 2 dạng ĐTĐ chánh.
ĐTĐ loại 1 lệ thuộc vào insulin xảy ra ở những người trẻ
dưới 40 tuổi khi tuyến tụy không
sản xuất được
insulin. ĐTĐ
loại II, không tùy thuộc vào insulin, chiếm hơn 90% trường hợp
ĐTĐ. ĐTĐ loại II
xảy ra ở những người lớn tuổi khi tuyến tụy
sản xuất được insulin nhưng nó không đủ khả năng điều
tiết lượng đường vào máu.
|
Việt Nam hiện là nước có tỷ lệ phát
triển bệnh ĐTĐ nhanh nhất thế giới.
Bệnh gia tăng cả về tỷ lệ, biến chứng và đối
tượng mắc bệnh.
Nước ta hiện có khoảng 4,5 triệu người bệnh ĐTĐ,
65% trong số nầy không biết ḿnh bị mắc bệnh.
Việc phát hiện trễ dẫn đến gia tăng
nguy cơ bị mù,
suy thận, hoại tử
chi.
|
Nguyên nhân.
Trong những năm gần đây mặc dù kinh tế phát triển, đời sống vật
chất phong phú nhưng bệnh tiểu đường
loại
II ở những người trên 40 tuổi lại có chiều hướng gia tăng.
Nền công
nghiệp phát triển và
tính toàn cầu hoá
đă tác động sâu xa đến việc thay đổi lối sống của con
người. Bên cạnh những yếu tố về môi
trường, chế độ ăn
uống thực
phẩm công nghiệp
nhiều chất béo, ít chất xơ và
lối
sống
tĩnh
tại, ít vận động là nguyên nhân chính đă
dẫn đến sự gia tăng nầy.
Có nhiều yếu tố nguy cơ dẫn đến căn bệnh nầy như tiền sử gia
đ́nh, béo ph́, áp huyết cao, xơ vữa động mạch, ít ngủ, ít vận
động.
Biện chứng.
Theo
y học cổ truyền, Tỳ chủ về hậu thiên, Tỳ chủ về cơ nhục.
Tỳ Vị trực tiếp thu nạp và chuyển hóa thức ăn.
Trong bệnh ĐTĐ, hoặc do ăn uống không hợp lư hoặc do
chuyển hóa kém hoặc do ít vận động đều thuộc chức trách quản lư
của Tỳ. Sách Tố Vấn, chương Kỳ Bệnh luận
có ghi
“Ăn nhiều chất béo, chất
ngọt sinh mập, sinh nội nhiệt. Chất ngọt gây trung măn, khí trào
lên mà sinh tiêu khát.”
Nói đến đường huyết là nói đến vị ngọt, vị ngọt là vị
của Tỳ. Cuộc sống nhiều áp lực dẫn đến Can khí uất kết. Do Can
Mộc khắc Tỳ Thổ, stress
cũng làm suy yếu Tỳ Vị.
Đây cũng là lư do cho thấy Stress là 1 yếu tố nguy cơ có
thể gây ra hoặc làm nặng thêm ĐTĐ và kiện Tỳ vừa giúp tăng
chuyển hóa vừa làm tăng khả năng
chống stress.
Đông y c̣n có kinh nghiệm
“Cam ôn trừ đại nhiệt”.
ĐTĐ là 1 h́nh thức uất nhiệt ở trung tiêu. Quy luật nầy
cho thấy cho thấy bổ Tỳ có thể
giải trừ được nhiệt. Tỳ khí vượng thịnh không chỉ giúp
chuyển hóa tốt các loại chất béo, chất ngọt để làm hạ đường
huyết mà c̣n giúp cơ thể khỏe mạnh, linh hoạt, tinh thần thoái
mái và thích vận động.
Những yếu tố này lại tiếp tục tác động trở lại để cải
thiện sức khỏe, kiểm soát thể trọng và ổn định đường huyết.
Mặt khác, v́ “Tỳ năng sinh huyết”, chuyển hóa tốt tất
huyết nhục dễ sinh.
Bổ Tỳ cũng là gián tiếp dưỡng âm, sinh huyết.
Do đó,
chữa ĐTĐ phải chữa Tỳ.
ĐTĐ thuộc hư chứng.
Bổ hư ở Tỳ
chủ yếu gồm Sâm Kỳ Truật có gia một vài vị
để làm mát Phế, Vị, sau đó mới tùy chứng mà gia giảm.
Bài thuốc.
Bài thuốc nầy thiên về
Kiện Tỳ chỉ khát.
Đảng sâm 16g, Hoàng kỳ 20g, Bạch truật 12g, Hoài sơn 12g,
Cát căn 16g, Cam thảo 8g. Sắc
uống. Mỗi đợt từ 15 đến 20 thang.
Được biết, từ 2003, các
thầy thuốc ở Bệnh Viện Y Học Cổ Truyền
Hải Dương đă vận dụng bài thuốc
“Bát Vị Tri Bá gia giảm”
để hổ trợ điều trị
ĐTĐ loại II với liệu
tŕnh 46 ngày với kết quả được đánh giá khá tốt.
Bát Vị Tri Bá gia giảm gồm Sinh địa, Hoàng kỳ, Sơn thù
nhục, Tri mẫu, Bạch linh, Thiên hoa phấn, Thạch cao, Mạch môn.
Bài nầy thiên về nhận định ĐTĐ do âm hư sinh nội nhiệt.
Cần phân biệt với
Tri Bá Bát Vị hoàn
nguyên là cổ phương Lục vị thêm Quế, Phụ tử, Tri mẫu và Hoàng bá
(không dùng Quế, Phụ tử chữa
ĐTĐ).
Ngoài ra, dù dùng với
phương dược nào, thuốc Tây, thuốc
Nam
hoặc thuốc Bắc chỉ là những biện pháp hổ trợ.
Chính chế độ ăn uống ít chất béo, chất ngọt, nhiều thực
phẩm thô và vận
động đều đặn mới là
biện pháp chính
giúp chữa dứt điểm căn bệnh.
Có thể dùng biện pháp
chánh mà không cần biện pháp hổ trợ nhưng không thể chữa khỏi
hoàn toàn nếu chỉ dùng biện pháp hổ trợ mà không có biện pháp
chánh.
Chế độ dinh dưỡng.
Ngũ cốc thô và rau quả củ có nhiều chất xơ.
Khẩu phần trung b́nh cho 1 người lao động nhẹ khoảng 1800 calo
mỗi ngày có thể được cân đối theo tỷ lệ 65% chất bột đường, 20%
chất béo và 15% chất đạm.
Chất bột đường chiếm tỷ lệ lớn nhất trong thành
phần thức ăn cũng là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự ổn
định đường huyết.
Đối với người
ĐTĐ việc bỏ bửa hoặc việc ăn quá no với nhiều thực phẩm tinh lọc
đều gây nguy hiểm. Những loại bánh kẹo, nước ngọt hoặc những
loại trái cây chín có hàm lượng đường đơn cao làm tăng vọt đường
huyết là nguy cơ lớn nhất đối với người bệnh ĐTĐ. Ngược lại,
những carbohydrat phức hợp trong các loại ngũ cốc thô có nhiều
chất xơ như gạo lức, bắp, các loại đậu c̣n nguyên lớp vỏ lụa bên
ngoài vừa giúp điều ḥa sự hấp thu chất đường vừa
tăng cường sự chuyển hóa chất béo. Theo
một nghiên cứu[i]
của các nhà khoa học Trường Đại học Pensylvania,
những
carbohydrate phức hợp trong ngũ cốc thô
c̣n có khả năng
giảm mỡ bụng và
cải thiện đáng kể lượng
CRP trong máu ở
những người béo ph́ hoặc tiểu đường.
CRP
(C-reactive protein)
là
một yếu tố biểu thị t́nh trạng viêm ở
nhiều chứng bệnh măn tính.
Cùng với những chất xơ
trong các loại hạt, chất xơ trong rau, quả, củ cũng góp phần
điều tiết để ngăn chận hiện tượng tăng vọt đường huyết sau bửa
ăn. Chính những đợt dao động đường huyết xảy ra thường xuyên do
ăn nhiều đồ ngọt hoặc thực phẩm tinh lọc sẽ kéo theo hệ quả làm
tăng nhứng đáp ứng stress và làm giảm độ nhạy đối với insulin
nơi ngựi bệnh.
Do đó, ngoài việc ít ăn
đồ ngọt, giảm bớt các loại cơm trắng, bún, phở, bánh ḿ trắng để
thay thế bằng ngũ cốc nguyên hạt là bước có ư nghĩa nhất trong
chế độ dinh dưỡng pḥng chống ĐTĐ.
Chất đạm và chất béo tốt đối với người ĐTĐ.
Không nhất thiết phải ăn chay. Tuy nhiên, pḥng chống ĐTĐ
phải lưu ư đến chế độ ăn ít chất bẽo băo ḥa trong các loại thịt
động vật và thực phẩm công nghiệp. Chất béo băo ḥa khó chuyển
hóa, dễ gây béo ph́, cứng động mạch làm tăng nguy cơ gây ra các
biến chứng trong bệnh ĐTĐ.
Ngược lại, nguồn chất đạm và chất béo hữu ích trong các
loại đậu và các loại hạt thô có chất béo
là nguồn chất khoáng, chất xơ, chất chống oxy hóa phong
phú vừa giúp ổn định đường huyết vừa điều ḥa các hoạt động tim
mạch và thần kinh.
Ngoài rau quả, ngũ cốc
và các loại hạt thô
có nhiều chất xơ, người ĐTĐ có thể ăn thêm thịt cá hoặc sữa đă
gạn bỏ bớt chất béo.
Thực phẩm chánh là ngũ cốc thô trong các bữa ăn chính sẽ
giúp sự ổn định lượng đường kéo dài nhiều giờ trong ngày. Điều
nầy vừa tránh việc tăng đường huyết lại giảm đi nhu cầu phải ăn
thêm những bữa ăn nhỏ trong ngày.
Đối với rau quả và một số loại hạt có thể dùng sống,
người ĐTĐ cũng được khuyến khích nên
ăn sống và nhai kỹ
để tận dụng khả năng chuyển hóa của cơ thể ở đoạn đầu của
ống tiêu hóa.
Một số loại thực dương giúp chữa bệnh ĐTĐ.
Hầu hết
các loại
rau quả, củ đều có nhiều chất xơ và những chất chống oxy
hóa hữu ích cho việc pḥng chống các loại bệnh ĐTĐ.
Ngoài ra, kinh nghiệm dân gian cũng cho thấy một số loại
thực dương giúp chữa ĐTĐ thông qua các tác dụng gia tăng hoạt
động của tuyến tụy hoặc tăng độ nhạy của tế bào cơ thể đối với
insulin. Đứng
đầu trong số nầy là mướp
đắng, kế đến có thể kể rong biển, kỷ tử, đậu bắp, đậu
đũa, đậu nành, ổi xanh, chuối xanh, nho đỏ, nho tím.
Nhiều
nghiên cứu[ii]
cho biết mỗi ngày ăn khoảng 3 đến 5 quả mướp đắng dưới các h́nh
thức ăn sống, nấu canh, phơi khô nấu nước uống hoặc phơi khô tán
bột có thể giúp kiểm soát tốt đường huyết.
Riêng nho chín có chỉ số
đường cao nên chỉ ăn mỗi lần
vài quả, ăn cả vỏ và hạt.
Uống không quá 100cc rượu nho mỗi ngày cũng hữu ích cho
tất cả mọi người.
Thức ăn nên tránh.
Ngoài ra, người bệnh ĐTĐ cần tránh hút thuốc, uống rượu, giảm
các loại chất béo xấu trong thịt động vật, sữa, trứng.
Trong giai đoạn đầu chữa bệnh, khi c̣n chưa ổn định được
đường huyết, cần ăn thêm những bữa ăn phụ, tránh ăn bánh kẹo,
các loại đồ ngọt hoặc thức ăn có chỉ số đường cao.
Vận động thân thể.
Chữa ĐTĐ phải vừa giải
quyết nguyên nhân sinh bệnh vừa nâng cao thể trạng con người cả
về mặt thể chất lẫn tâm lư.
Ít hoạt động cơ bắp là nguyên nhân chủ yếu của căn bệnh
th́ hoạt động cơ bắp đều đặn là yếu tố cần thiết để cắt đứt ṿng
xoắn gây bệnh. Vận
động[iii]
đều đặn và hợp lư có thể
bảo đảm chiến lược “3 mặt giáp công” đối với ĐTĐ.
Vận động không chỉ kiểm soát thể trọng, gia tăng độ nhạy
của tế bào đối với insulin
mà c̣n giúp tăng tiết những nội tiết tố tích cực như
endorphin, serotonin giúp cải thiện tâm lư.
Đi bộ.
Khảo sát về bệnh ĐTĐ cho biết có đến 80%
những người ĐTĐ thuộc thành phần những người thừa cân, béo ph́[iv].
Năng vận động là 1 yêu cầu cơ bản để bảo vệ sức khỏe và pḥng
chống bệnh tật. Vận
động đều đặn và hợp lư giúp khí huyết lưu thông, cải thiện độ mỡ
trong máu và cải thiện hệ miễn dịch. Trong pḥng chống bệnh ĐTĐ,
vận động giúp kiểm soát thể trọng, nguy cơ hàng đầu dẫn đến ĐTĐ.
Không nhất thiết phải là những h́nh thức tập luyện chuyên
biệt. Đi bộ, đi xe
đạp, bơi lội . .
nếu được thực hành đều đặn khoảng 30 đến 40 phút mỗi ngày có thể
giúp tăng cường chuyển hoá, kiểm soát
béo ph́ và làm tăng độ nhạy của tế bào đối với insulin.
Nghiên cứu về liệu pháp
vận động cho biết đi bộ là giải pháp hữu hiệu nhất để pḥng ngừa
cũng như điều trị bệnh tiểu đường loại 2[v].
Đi bộ từ chậm đến nhanh dần vừa với điều kiện sức
khỏe của mỗi người.
Vận động ảnh hưởng trực tiếp đến sự
chuyển hóa trong cơ thể. Do đó, khi chưa ổn định được đường
huyết, chạy nhanh hoặc tập quá sức có thể dẫn đến hạ đường huyết
ngay trong lúc tập hoặc vài giờ sau đó. Không tập liền trước khi
đi ngủ để tránh trựng hợp hạ đường huyết trong lúc ngủ có thể
gây nguy hiểm. Khi
tập luyện cần dự trữ sẳn kẹo hoặc nước đường để dùng khi có các
dấu hiệu hạ đường huyết như cảm giác mệt lă, đói cồn cào, vả mồ
hôi, chân tay lạnh.
Những người bệnh ĐTĐ cũng cần những đôi giày bảo vệ tốt bàn chân
khi đi bộ để tránh
bị trầy, xước hoặc phồng rộp ở chân.
Thực hành thư
giăn và kiểm soát stress.
Theo Giáo sư William
H. Polonski, Chủ Tịch Viện Nghiên Cứu Đái Tháo Đường
ở Mỹ,
“những ngựi bệnh đái
tháo đường thường phải chịu đựng stress, loại stress đặc thù của
bệnh ĐTĐ.”
Ngoài những nổi lo toan hàng ngày do cuộc sống mang lại, người
ĐTĐ luôn căng thẳng phải lo ổn định đựng huyết và dễ bị ảm ảnh
bởi những biến chứng nguy hiểm, kể cả tàn phế do căn bệnh gây
ra. Stress tác động
xấu đến đường huyết theo nhiều cách.
Nghiên cứu ở
trường Đại học Georgetown[vi]
cho thấy stress không chỉ ảnh hưởng đến hành vi
khiến người bệnh khó
kiểm soát việc ăn uống mà c̣n có hệ quả phát triển lượng mỡ
nhiều hơn so với người b́nh thường dù với cùng một lượng calori
ăn
vào.
Quan trọng hơn,
stress kích hoạt những đáp ứng “chống trả hoặc bỏ chạy”
với khuynh hướng
huy động thêm năng lượng từ nguồn đường dự trữ để đối phó với
hiểm nguy. Tuy nhiên, trong những stress tâm lư, không những
không có hành động đối phó xảy ra nhưng insulin lại không đủ khả
năng đưa đường vào tế bào khiến đường huyết tăng cao.
Do
đó, những bài tập thở, ngồi thiền
hoặc tập yoga hổ trợ điều trị ĐTĐ theo nhiều nghĩa, vừa giúp ăn
uống tiết độ vừa cải thiện chuyển hóa vừa điều hoà hoạt động nội
tiết để ổn định đuờng huyết.
Ngoài ra,
một số
động tác kéo giăn cột sống và cúi gập người quanh thắt
lưng của yoga
có tác dụng kích hoạt tuyến tụy và hoạt
hoá luân xa 3,
liên quan đến việc chuyển hoá chất đường.
Mỗi ngày bỏ ra khoảng 15
đến 20 phút thực hành những động tác yoga thích hợp không chỉ
bảo đảm chế độ vận động nhẹ mà c̣n giúp điều ḥa hoạt động nội
tiết và gia tăng khí hóa của Tỳ Vị sẽ giúp hổ trợ tốt cho việc
pḥng chống ĐTĐ.
[i] Whole grains
reduce weight, cut CVD risk. American Journal of
Clinical Nutrition, Jan.2008; vol 87 (1):79-80.
[ii] Laura Sane.
Bitter melon. www. Diabeteshealth.com
[iii] Depression,
excercises with serotonin connection.
www.associatedcontent.com.
[iv] Staff of FC&A.
Nature’s Prescription: Foods, Vitamins and Supplements
that prevent Disease. Tr. 77.
[v] Frank Hu,
MD.,PhD. Relationships of walking to mortality among US
adults with diabetes. The Archives of Internal Medicine.
June.2003.
[vi] Harrison Wein,
Ph.D. Stress, Obesity link found. www.nih.gov/news
|