Công thức máu
Công thức máu, c̣n được gọi là huyết đồ, là một
trong những xét nghiệm thường quy được sử dụng nhiều nhất trong
các xét nghiệm huyết học cũng như
xét nghiệm y khoa.
Trước đây công thức máu được thực hiên bằng các dụng cụ đếm
tay, để xác định số lượng của từng loại tế bào máu, ngày nay mẫu
máu được đưa vào và nhờ các máy đếm tự động, do vậy việc thực
hiện công thức máu trở nên đơn giản hơn nhiều.
Công thức máu là xét nghiệm quan trọng cung cấp cho người
thầy thuốc những thông tin hữu ích về t́nh trạng của bệnh nhân
hoặc của người được xét nghiệm. Tuy nhiên phải biết rằng chỉ
riêng công thức máu th́ không thể cho phép đưa ra một chẩn đoán
xác định về nguyên nhân gây bệnh, nó chỉ có tính chất định
hướng, gợi ư mà thôi.
Một số điểm cần lưu ư
- Các trị số của công thức máu thay đổi theo t́nh trạng
sinh lư, ví dụ thay đổi tùy theo giai đoạn tiêu hóa của
cơ thể hoặc thay đổi theo mức độ hoạt động thể chất của cơ
thể
- Máu được lấy từ
tĩnh mạch, sau đó cho vào trong một ống nghiệm có chứa
chất chống đông và chất chống kết dính tiểu cầu
- Các máy đếm tự động:
- Tách riêng các ḍng tế bào theo kích thước, có nhân
hay không có nhân, theo h́nh dạng của nhân, có hạt hay
không có hạt ...
- Tuy nhiên, máy móc cũng chưa hoàn toàn thay thế được
con người, v́ h́nh thể tế bào phức tạp, và khi máy báo
có bất thường th́
nhà tế bào học cần kiểm tra lại tiêu bản máu và đây
là người cho kết quả sau cùng. Thông thường th́ khi làm
công thức máu người ta làm kèm theo phết máu ngoại biên
và đem quan sát dưới
kính hiển vi.
Các thông số trong công thức máu
Một xét nghiệm công thức máu thông thường ở
Việt Nam sẽ cho biết các thông tin như sau:
Ḍng hồng cầu
- Số lượng
hồng cầu: thường được kư hiệu là RBC (red blood cell)
hay ở một số tờ kết quả xét nghiệm của Việt Nam th́ được ghi
là HC, là số lượng hồng cầu có trong một đơn vị máu (thường
là lít hay mm³)
- Nồng độ hemoglobin trong máu: thường được kư hiệu là HGB
hay Hb (đơn vị tính bằng g/l hay g/dl), đo hàm lượng
hemoglobin trong máu.
- Hematocrit - dung tích hồng cầu: thường được kư hiệu là
Hct, đây là phần trăm thể tích của máu mà các tế bào máu
(chủ yếu là hồng cầu) chiếm.
- Các chỉ số hồng cầu:
- MCV - thể tích trung b́nh hồng cầu, đơn vị thường
dùng là femtolit (1 fl = 10-10lit)
- MCV được tính bằng công thức: MCV = Hct / số
hồng cầu. Giá trị MCV cho phép phân biệt các loại
thiếu máu sau:
- Thiếu máu hồng cầu nhỏ: khi MCV < 90 fl
- Thiếu máu hồng cầu b́nh: khi 90 fl < MCV < 100
fl
- Thiếu máu hồng cầu đại: khi MCV > 100 fl
- MCHC - nồng độ hemoglobin trung b́nh trong một
hồng cầu, đơn vị thường dùng là (g/dl hay g/l)
- MCHC được tính theo công thức: MCHC = Hb / Hct.
MCHC cho phép phân biệt thiếu máu
- Thiếu máu đẳng sắc: khi MCHC trong giá trị b́nh
thường
- Thiếu máu nhược sắc: khi MCHC < 33g/l
- MCH - số lượng hemoglobin trung b́nh trong một hồng
cầu, đơn vị thường dùng là picogram (1 pg = 10-12g)
- MCH được tính theo công thức: MCH = Hb / số
lượng hồng cầu, hay MCH = Hb / RBC
Các giá trị b́nh thường của hồng
cầu
|
Giá
trị b́nh thường |
Nữ
giới |
Nam
giới |
|
Hồng
cầu RBC hay HC (10/l) |
3.87
- 4.91 |
4.18
- 5.42 |
|
Hemoglobin - Hb (g/l) |
117.5 - 113.9 |
132.0 - 153.6 |
|
Hematocrit - Hct (%) |
34 -
44 |
37 -
48 |
| MCV
(fl) |
92.57 - 98.29 |
92.54 - 98.52 |
| MCH
(pg) |
30.65 - 32.80 |
31.25 - 33.7 |
| MCHC
(g/dl) |
33.04 - 35 |
32.99 - 34.79 |
(Tham khảo trong
sách Lâm Sàng Huyết Học - PGS Trần Văn Bé - NXB Y Học
Tp. HCM 1999)
Tóm lại, các trị số của ḍng hồng cầu cho những thông tin về
t́nh trạng hồng cầu của máu người được làm xét nghiệm, tất nhiên
không đầy đủ, gợi ư bệnh lư thiếu máu và nguyên nhân gây thiếu
máu.
Thông thường, các bác sỹ dựa vào nồng độ hemoglobin để chẩn
đoán và đánh giá mức độ thiếu máu, và dựa theo định nghĩa sau:
Thiếu máu khi nồng độ Hb thấp hơn:
- 130g/dl ở nam giới
- 120g/dl ở nữ giới
- 110g/dl ở người lớn tuổi
Ḍng bạch cầu
- Số lượng bạch cầu: là số lượng
bạch cầu có trong một đơn vị máu, được kư hiệu là WBC (white
blood cell). Giá trị b́nh thường của thông số này là
4000-10000 bạch cầu/mm³ (trung b́nh khoảng 7000 bạch
cầu/mm³ máu). Số lượng bạch cầu tăng cao trong các bệnh
nhiễm khuẩn cấp tính, và đặc biệt cao trong các bệnh bạch
huyết cấp hoặc măn tính (ung
thư máu - leucemie).
- Công thức bạch cầu: là tỷ lệ phần trăm các loại bạch cầu
trong máu. Sự thay đổi tỷ lệ này cho nhiều ư nghĩa quan
trọng.
- Bạch cầu trung tính: là những tế bào trưởng thành ở
trong máu tuần hoàn và có một chức năng quan trọng là
thực bào, chúng sẽ tấn công và phá hủy các loại
vi khuẩn,
virus ngay trong máu tuần hoàn khi các sinh vật này
vừa xâm nhập cơ thể. V́ vậy bạch cầu đa nhân trung tính
tăng trong các trường hợp nhiễm trùng cấp. Đôi khi trong
trường hợp nhiễm trùng quá nặng như nhiễm trùng huyết
hoặc bệnh nhân suy kiệt, trẻ sơ sinh, lượng bạch cầu này
giảm xuống. Nếu giảm quá thấp th́ t́nh trạng bệnh nhân
rất nguy hiểm v́ sức chống cự vi khuẩn gây bệnh giảm sút
nghiêm trọng. Bạch cầu cũng giảm trong những trường hợp
nhiễm độc kim loại nặng như
ch́,
arsenic, khi
suy tủy, nhiễm một số
virus...
- Bạch cầu đa nhân ái toan: khả năng thực bào của loại
này yếu, nên không đóng vai tṛ quan trọng trong các
bệnh nhiễm khuẩn thông thường. Bạch cầu này tăng cao
trong các trường hợp nhiễm
kư sinh trùng, v́ bạch cầu này tấn công được kư sinh
trùng và giải phóng ra nhiều chất để giết kư sinh trùng.
Ngoài ra bạch cầu này c̣n tăng cao trong các bệnh lư
ngoài da như chàm, mẩn đỏ trên da...
- Bạch cầu đa nhân ái kiềm: đóng vai tṛ quan trọng
trong một số phản ứng dị ứng.
- Mono bào: là dạng chưa trưởng thành của
đại thực bào trong máu v́ vậy chưa có khả năng thực
bào. Đại thực bào là những tế bào có vai tṛ bảo vệ bằng
cách thực bào, khả năng này của nó mạnh hơn của bạch cầu
đa nhân trung tính. Chúng sẽ phân bố đến các mô của cơ
thể, tồn tại tại đó hàng tháng, hàng năm cho đến khi
được huy động đi làm các chức năng bảo vệ. V́ vậy mono
bào sẽ tăng trong các bệnh nhiễm khuẩn măn tính như lao,
viêm ṿi trứng măn...
- Lympho bào: đây là những
tế bào có khả năng
miễn dịch của cơ thể, chúng có thể trở thành những
tế bào "nhớ" sau khi tiếp xúc với tác nhân gây bệnh và
tồn tại lâu dài cho đến khi tiếp xúc lần nữa với cùng
tác nhân ấy, khi ấy chúng sẽ gây ra những phản ứng miễn
dịch mạnh mẽ, nhanh và kéo dài hơn so với lần đầu.
Lympho bào tăng trong
ung thư máu, nhiễm khuẩn máu, nhiễm lao, nhiễm virus
như
ho gà,
sởi... Giảm trong
thương hàn nặng, sốt phát ban...
Các giá trị b́nh thường của bạch
cầu
| Các loại bạch cầu |
Giá trị
tuyệt đối (trong 1mm³) |
Tỷ lệ
phần trăm |
| Đa nhân trung tính -
NEUTROPHIL |
1700 -
7000 |
60 - 66% |
| Đa nhân ái toan -
EOSINOPHIL |
50 - 500 |
2 - 11% |
| Đa nhân ái kiềm -
BASOPHIL |
10 - 50 |
O.5 - 1% |
| Mono bào - MONOCYTE |
100 -
1000 |
2 - 2.5% |
| Bạch cầu Lymphô -
LYMPHOCYTE |
1000 -
4000 |
20 - 25% |
(Tham khảo trong
sách Lâm Sàng Huyết Học - PGS Trần Văn Bé - NXB Y Học
Tp. HCM 1999)
Ḍng tiểu cầu
- Số lượng tiểu cầu: cho biết số lượng
tiểu cầu có trong một đơn vị máu. Số lượng tiểu cầu b́nh
thường là 150.000-400.000 tiểu cầu/mm³ máu. Tiểu cầu có vai
tṛ quan trọng trong quá tŕnh đông cầm máu, v́ vậy khi số
lượng tiểu cầu giảm dưới 100.000/mm³ máu th́ nguy cơ xuất
huyết tăng lên.
- Thể tích trung b́nh tiểu cầu: MPV - cũng được tính bằng
đơn vị femtolit, giá trị b́nh thường từ 7,5-11,5 fl
Lưu ư: các trị số b́nh thường trên được thống kê trên
người Việt.
Các trị số b́nh thường này c̣n thay đổi tùy theo máy làm xét
nghiệm, theo lứa tuổi, giới tính, theo chủng tộc của người được
làm xét nghiệm.
Wikipedia |