Nên pḥng bệnh loăng xương ngay từ thuở nhỏ
 |
| Thuốc dự pḥng và điều trị loăng xương do măn kinh và do
dùng corticoid. |
Bệnh này xuất hiện ở tuổi trung niên, nhưng sự thoái hoá xương
thực ra đă bắt đầu khi bạn ngoài 30 tuổi. Việc điều trị thường chỉ có hiệu quả
sau vài năm dùng thuốc và xương cũng không thể hồi phục hoàn toàn. V́ vậy, loăng
xương cần được dự pḥng càng sớm càng tốt.
Trên thế giới có khoảng 200 triệu người bị loăng xương. Khoảng
1/4 số phụ nữ ngoài 60 tuổi bị găy xương do bệnh này. Nguy cơ loăng xương tăng
cao ở người cao tuổi, kể cả nam giới.
Giáo sư Trần Ngọc Ân, Chủ tịch Hội Khớp học Việt Nam, cho
biết, xương được cấu tạo bởi 2 loại tế bào: tạo cốt và huỷ cốt. Ở trẻ em, hoạt
động của tạo cốt bào chiếm ưu thế, giúp xương phát triển nhanh. Hai loại tế bào
này ở thế cân bằng trong độ tuổi 20-30, khi mật độ xương đạt đến đỉnh điểm. Từ
tuổi 35, số huỷ cốt bào bắt đầu tăng nhanh tạo ra quá tŕnh suy thoái. Mật độ
xương giảm dần và đến một lúc nào đó, bệnh loăng xương xuất hiện.
Tiến sĩ Vũ Thị Thanh Thuỷ, Phó trưởng khoa Khớp bệnh viện Bạch
Mai, cho biết, có nhiều yếu tố làm gia tăng nguy cơ loăng xương như hút thuốc,
nghiện rượu và cà phê, lối sống tĩnh tại, chế độ ăn thiếu canxi, bị rối loạn
tiêu hóa, thiếu vitamin C và D. Ở phụ nữ, nồng đô oestrogen thấp (măn kinh, cắt
bỏ buồng trứng, dùng thuốc chữa ung thư vú) cũng dẫn đến bệnh này.
Nguy cơ loăng xương cũng tăng cao ở những người bị viêm khớp
dạng thấp, viêm gan C, nhiễm trùng gan, cường giáp, cường tuyến phó giáp. Ngoài
ra, việc dùng lâu dài một số thuốc cũng có thể dẫn đến bệnh như heparin (làm
loăng máu), phenytoin (chống động kinh), corticoid (kháng viêm).
Xương bị loăng sẽ dễ găy, gây đau đớn, làm giảm chất lượng
cuộc sống và khả năng lao động. Trên 30% bệnh nhân bị nứt xương chậu do loăng
xương phải có y tá chăm sóc lâu dài tại nhà. Khoảng 20% phụ nữ bị găy xương cổ
xương đùi sẽ tử vong trong năm sau do những hậu quả gián tiếp của tai nạn. Thêm
vào đó, nếu đă bị găy cột sống một lần do loăng xương, người bệnh sẽ có rất nguy
cơ găy xương nhiều lần nữa trong những năm tiếp theo.
Bệnh loăng xương thường không có
triệu chứng sớm. Khoảng 60% ca xẹp đốt sống do loăng xương không
có biểu hiện lâm sàng. V́ vậy, nhiều người chỉ phát hiện bệnh khi đă bị găy
xương, giảm chiều cao, gù, đau lưng. Đây là lúc bệnh đă nặng và việc điều trị
thường khó khăn.
V́ vậy, tiến sĩ Thuỷ khuyên rằng, việc dự pḥng nên thực hiện
từ khi c̣n nhỏ. Để bảo vệ xương cho con, bà mẹ mang thai cần ăn đủ canxi. Với
trẻ nhỏ, ngoài việc đảm bảo lượng canxi, cha mẹ cần cho trẻ tắm nắng mỗi ngày để
thúc đẩy việc tạo thành vitamin D, một chất rất quan trọng trong chuyển hoá
xương.
Một phương pháp quan trọng để pḥng loăng xương là tập thể dục
đều đặn với cường độ phù hợp với sức khoẻ. Ngoài ra, cần có lối sống lành mạnh,
hạn chế rượu, cà phê, thuốc lá. Ở người cao tuổi hoặc có các yếu tố nguy cơ đă
kể trên, nên định kỳ kiểm tra xương để phát hiện sớm bệnh loăng xương. Các kỹ
thuật giúp xác định bệnh là xét nghiệm sinh hoá, chụp X-quang, đo mật độ xương
hoặc sinh thiết xương.
Mục tiêu chủ yếu của điều trị
loăng xương là chấm dứt t́nh trạng xương bị mất dần và nâng cao
mật độ cũng như sự vững chắc của xương. Tiến sĩ Thuỷ cho biết, trước đây, người
ta thường dùng liệu pháp oestrogen để điều trị bệnh này ở phụ nữ. Cách này hiện
ít được dùng v́ có thể gây nhiều tác dụng phụ. Nó chỉ được chỉ định với thời
gian ngắn cho cho những người có hội chứng măn kinh.
Hiện bệnh nhân thường được chỉ định những thuốc có tác dụng
chấm dứt t́nh trạng mất xương và tăng sự vững chắc của xương như alendronate,
risedronate, raloxifene và calcitonin.
Theo giáo sư Trần Ngọc Ân, một trong các thuốc điều trị và dự
pḥng loăng xương phổ biến nhất hiện nay là Actonel (tên gốc là risedronate
sodium), thường được dùng cho các trường hợp loăng xương do măn kinh hoặc do
corticoid. Actonel đáp ứng đầy đủ các tiêu chí của một thuốc pḥng trị loăng
xương lư tưởng: tác dụng nhanh và kéo dài. Nó giúp làm giảm nguy cơ găy đốt sống
và xương ngoài đốt sống chỉ trong ṿng 6 tháng (phần lớn các thuốc khác chỉ cho
tác dụng sau khoảng 2 năm). Liều dùng thông thường là 5 mg mỗi ngày.
Hiện nay đă có loại Actonel mới chỉ cần dùng mỗi tuần một viên
35 mg. Loại thuốc mới này không chỉ tiện lợi hơn mà c̣n tăng khả năng tuân thủ
điều trị v́ người bệnh chỉ cần uống 1 viên cho cả tuần. Các nghiên cứu cho thấy,
Actonel 35 mg có hiệu quả và tác dụng phụ tương tự loại 5 mg.
Theo các chuyên gia, tái tạo hoàn toàn phần xương bị mất dần
do loăng xương là một việc rất khó khăn. V́ vậy, trong bệnh này, việc dự pḥng
phải được đặt ngang tầm với điều trị.
Thanh Nhàn
|