|
U MÁU Ở TRẺ EM
BSCKII.
Nguyễn Nguyệt Nhă
– Liên
khoa Tai Mũi Họng - Mắt – Răng Hàm Mặt
Bệnh
viện Nhi Trung Ương.
(Bài đăng trên
Thầy Thuốc Việt Nam - Số 33 tháng 5/2009)
U máu là
khối u lành tính bẩm sinh phổ biến nhất ở trẻ em - đó là loại u
lành tính của tế bào nội mạc lát thành mạch máu. Loại u này xuất
hiện lúc mới sinh và có đặc tính phát triển rất nhanh ở trẻ nhũ
nhi. Ngược lại, u dị dạng mạch máu cũng xuất hiện lúc mới sinh
nhưng phát triển chậm hơn và tồn tại tới tuổi trưởng thành. U
máu có thể xuất hiện ở mọi nơi trên cơ thể như: da, đầu, mặt,
cổ, mắt, ṿm, miệng, họng, ngực, chân, tay, nội tạng như gan,
thận… Chính v́ thế bệnh nhân có thể tới khám ở các chuyên khoa
khác nhau như da liễu, răng-hàm-mặt, tai-mũi-họng, ngoại khoa,…
Phân loại U máu:
-
U tế bào nội mạc mạch máu:
U xuất hiện lúc mới sinh, phát
triển rất nhanh, khoảng 25% có hiện tượng thoái triển lúc 5 -7
tuổi. Tỉ lệ trẻ gái cao hơn trẻ trai từ 3-5 lần.
-
U dị dạng mạch máu như:
U dị dạng động mạch, tĩnh mạch
hay u bạch mạch tồn tại và phát triển đến tuổi trưởng thành.
Cơ chế bệnh
sinh (theo Dans de Angelis 007)
-
Loại u tế bào nội mạc: Có sự tăng sinh tế
bào nội mạc lát thành mạch máu, các tế bào nội mạc mới tạo thành
các ống mạch máu mới, u phát triển nhanh.
-
Loại u dị dạng mạch máu: Các tế bào nội mạc
mạch máu không tăng sinh, không tạo thành các ống mạch máu mới,
loại u này phát triển từ từ tới tuổi trưởng thành.
Nguyên nhân
Có một
số giả thuyết được đưa ra:
-
Do di truyền: Từ cha mẹ sang con cái có nguy cơ 50/50 số
lần mang thai. Bố hoặc mẹ có u máu đă thoái triển nhưng đứa con
bị u máu nặng hơn.
-
Do rối loạn hoocmon
-
Do rối loạn miễn dịch
-
Bất thường về mạch máu
-
Do ảnh hưởng của hoá chất hay các chất độc hại khác.
-
Do cha mẹ bị nhiễm khuẩn hay nhiễm virut trong thời kỳ
mang thai.
-
Sau chấn thương.
Chẩn đoán
Dựa vào lâm
sàng có các thể sau:
- U máu phẳng: c̣n gọi là vết rượu vang, u phẳng, màu đỏ hay tím
sẫm, nếu u thâm nhiễm sâu vào cơ gây biến dạng mặt.
- U máu thể gồ: U màu đỏ phát triển sần sùi, gồ lên mặt da thành
từng đám hay thành chùm như chùm nho, động vào rất dễ chảy máu
khó cầm.
- U dưới da: Mặt da b́nh thường, có một vùng hơi tím, mật độ
căng, bóp xẹp.
- U máu xương hàm: có biểu hiện chảy máu chân răng, u máu phát
triển ở lợi và xương hàm, răng lung lay, nếu nhổ răng có khả
năng chảy máu ồ ạt khó cầm. Chụp X quang xương hàm có hiện tượng
u phá huỷ xương hàm.
- U máu động mạch: u thường phát triển chậm và to dần ở tuổi
trưởng thành. Sờ có cảm giác nóng, mạch đập mạnh, có cảm giác
“rung miu”.
- U bạch mạch: U phát triển chậm, biến dạng mặt, chân, tay … tuỳ
từng vị trí u phát triển, mật độ u mềm, căng, có những túi dịch
(chọc hút, có dịch màu vàng chanh).
- U hỗn hợp: u bạch mạch và u máu, u phát triển chậm, biến dạng
vị trí u phát triển.
Cận lâm
sàng:
-
Chụp mạch: vùng u có hiện tượng ngấm thuốc mạnh
-
Siêu âm: có vùng giảm âm rơ ở giữa.
-
Chụp CT Scan sọ mặt, chụp cộng hưởng từ MRI để xác định
chính xác vị trí u, kích thước và sự xâm lấn của u.
-
Cần sinh thiết xét nghiệm tế bào những trường hợp u ở sâu
khó xác định.
Biến chứng
của U máu:
-
Loét, nhiễm trung, hoại tử u.
-
Chảy máu
-
Suy tim
-
Tắc nghẽn đường thở
-
Ảnh hưởng thẩm mỹ
-
Tác động tâm lư
Điều trị
Có nhiều phương
pháp điều trị khác nhau. Tuy nhiên việc áp dụng phương pháp điều
trị nào c̣n tuỳ thuộc vào từng thể bệnh, từng vị trí khác nhau
đ̣i hỏi bác sĩ có những sự lựa chọn phương pháp điều trị sao cho
đạt được các yêu cầu:
-
Khỏi bệnh
-
Không gây tác hại tới sự phát triển của cơ thể
-
Thẩm mỹ.
Điều trị u
máu tế bào nội mạc mạch máu
Steroid đường uống: liều lượng 2mg/kg/ngày dùng liên
tục trong 4 tuần (giảm liều sau từng tuần). Uống 1 tháng, nghỉ
15 ngày lại uống tiếp 1 tháng. Cần theo dơi diễn biến toàn thân
của trẻ v́ khi dùng Steroid kéo dài v́ có thể gây các biến
chứng: bộ mặt Cushing, thay đổi tính cách, nấm miệng, chậm phát
triển tinh thần, đái tháo đường, tăng huyết áp.
Đặc biệt, theo nghiên cứu của Dans de Angelis 2001 cho thấy tỉ
lệ u máu điều trị liệu pháp steroid chỉ đáp ứng khoảng 30%.
Tiêm xơ: Phương pháp này rất có hiệu quả đối với loại u máu tế
bào nội mạc mạch máu
Thuốc sử dụng: Scleremo hoặc trombovard 1%, 3% (thuốc của Pháp)
Việc tiến hành tiêm xơ phải bác sĩ có kinh nghiệm thực hiện, đặc
biệt vùng đầu, mặt, cổ.
Sử dụng interferon a-2b
(Heberon): theo nghiên cứu của Juan Manuel Marquer – Pediatric
University hospital Lahabana – Cu Ba điều trị u máu cho trẻ em
từ 1,5 tháng – 14 tuổi th́ tỷ lệ thoái triển của trẻ 1- 5 tuổi
đạt tỉ lệ cao.
-
Cách sử dụng: liều 3 triệu đơn vị (3MUI)/ngày (pha thuốc
với 1ml nước cất), tiêm dưới da hàng ngày liên tục trong 6
tháng,
-
Thời gian sử dụng: ít nhất trong 6 tháng
-
Tác dụng phụ: chủ yếu là sốt trong 1-2 ngày đầu dùng
thuốc. Theo dơi diễn biến tiếp theo, cần phải kịp thời xử trí
các triệu chứng như nôn, sốt, biếng ăn … trao đổi với các đồng
nghiệp có kinh nghiệm trong quá tŕnh sử dụng thuốc.
Điều trị bằng phẫu thuật: tuỳ theo từng
thể bệnh, vị trí hay mức độ khu trú của khối u.
Các phương pháp khác: có thể dùng phương pháp nút
mạch và laser
Điều trị u dị dạng mạch máu
Có
thể lựa chọn phương pháp laser, nút mạch (nếu dị dạng động mạch
lớn cần tiến hành nút mạch kết hợp phẫu thuật ngay): phẫu thuật
đối với các trường hợp u dị dạng bạch mạch, u dị dạng tĩnh mạch.
Giới thiệu
02 trường hợp bệnh nhân bị u máu đă được điều trị khỏi tại khoa
Răng –Hàm - Mặt - Bệnh viện Nhi Trung ương.
Trường hợp
1:
Bệnh nhân
Trần Đ́nh N – 15 tháng tuổi ở Tuy Phước – B́nh Định
- Ngày vào điều
trị ngoại trú: tháng 2/2007. Lư do tới khám: U máu toàn bộ mi
trên trái
- Tiền sử gia
đ́nh: Mẹ khi mang thai có tiếp xúc với hoá chất trừ sâu.
- Tiền sử bệnh:
cháu khi sinh ra đă xuất hiện u vùng mi trên trái kích thước >
1cm. U phát triển rất nhanh che kín toàn bộ mắt trái. Bệnh nhân
đă được phẫu thuật cắt u tại bệnh viện Mắt trung ương – TP. Hồ
Chí Minh. Sau đó lại tái phát và phát triển nhanh - bệnh nhân
đến khám tại Bệnh viện Nhi Trung Ương – Hà Nội.
- Thăm khám lâm
sàng: Bệnh nhân tỉnh táo, không sốt, hạch đầu cổ không viêm cấp
tính, không có bệnh khác kèm theo.
- Tại chỗ: u
máu che kín toàn bộ mắt trái, nhăn cầu bị đẩy lồi ra khỏi ổ mắt,
có hiện tượng rỉ máu từ kết mạc mắt.
 
(ảnh trước
và sau điều trị)
Kích thước U: 4cm x 3cm x 2,5cm.
- CT scan sọ mặt: u máu toàn bộ mi trên, nhăn
cầu bị đẩy lồi ra khỏi ổ mắt, do u máu có hiện tượng xâm lấn vào
sâu
- Điều trị: Phương pháp ban đầu tiêm xơ. Sau 5
lần điều trị: u ổn định (cứ 1 tháng/tiêm 01 lần)
Tiến hành phẫu thuật cắt toàn bộ u máu vùng
mi trên và tạo h́nh mi ngày 17/07/2007 tại khoa Răng – Hàm - Mặt
- bệnh viện Nhi Trung ương.
- Kết quả khám lại (tháng 10/2008): không có
hiện tượng sụp mi, thể lực hoàn toàn b́nh thường
Trường
hợp 2:
Bệnh nhân Lê
Mai P sinh ngày 27/10/2007 ở Đông Anh – Hà Nội.
 
Ảnh trước và sau điều trị.
Bệnh nhân bị u máu vùng tuyến mang tai phải, u ngày càng phát
triển to và lan rộng toàn bộ vùng mang tai phải, góc hàm phải.
Bệnh nhân đă được điều trị tiêm xơ, nút mạch tại bệnh viện Nhi
trung ương, u nhỏ hơn nhưng sau đó 1 tháng u lại phát triển to
nhanh. Mật độ u mềm, căng, có cảm giác nóng hơn so với vùng mang
tai trái, không có cảm giác “rung miu”. Tháng 10/2008 bệnh nhân
đă được điều trị bằng interferon
a - 2b (Heberon - CuBa
sản xuất), sau 02 tháng điều trị, bệnh nhân đáp ứng tốt, u thoái
triển (u nhỏ đi, mật độ mềm, da hết nóng.) Bệnh nhân tiếp tục
được sử dụng Interferon a
- 2b thêm 1 tháng nữa để u thoái triển hoàn toàn.
- Nhận xét kết
quả điều trị: điều trị u máu vùng tuyến mang tai với interferon
a - 2b đem lại kết quả
tốt, phẫu thuật cắt u vùng này rất khó khăn v́ dễ bị tổn thương
dây thần kinh VII gây liệt mặt. |