Hỏi đáp sức khỏe Tác giả : SK&ĐS * PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ LOÉT DẠ DÀY - TÁ TRÀNG KHÔNG CÓ H. PYLORIHỏi: SK&ĐS số 152 ngày 30/11/2001 có bài về điều trị loét dạ dày - tá tràng liên quan H. Pylori, cho biết cơ quan FDA chỉ chấp nhận 6 phác đồ trị cho bệnh nhân loét dạ dày - tá tràng có H. Pylori (+) mà thôi, không có hướng dẫn phác đồ điều trị loét dạ dày - tá tràng có H. Pylori (-). Xin quư báo cho biết phác đồ điều trị loét dạ dày - tá tràng không có H. Pylori. (Nguyên Lộc - Ninh Thuận) Trả lời: Trên số báo bạn nêu, chúng tôi có liệt kê 6 phác đồ được FDA khuyến cáo dùng cho bệnh nhân loét dạ dày - tá tràng H. Pylori (+), nhưng bạn đọc không hiểu được phần ngược lại. Trong vài năm gần đây, người ta đă phát hiện ra vai tṛ của vi khuẩn H. Pylori trong bệnh sinh loét dạ dày - tá tràng cũng như nguy cơ cao gây ung thư dạ dày. Ở bệnh nhân loét dạ dày có mặt H. pylori th́ ổ loét khó lành và bệnh hay tái phát. Hiện tại tất cả bệnh nhân bị loét dạ dày - tá tràng đều được chỉ định xét nghiệm sự hiện diện của H. Pylori. Có thể xác định qua hút dịch dạ dày (trong khi nội soi dạ dày tá tràng), làm test miễn dịch hoặc xác định qua hơi thổi vào một dụng cụ chuyên dùng xác định đổi màu hoặc xác định bằng test máu. Khi có mặt H. Pylori th́ phải điều trị thêm kháng sinh để tiêu diệt nó như các bệnh nhiễm trùng khác. Riêng phần điều trị chứng loét dạ dày - tá tràng th́ giống nhau giữa hai trường hợp có hoặc không có mặt H. Pylori, tức là theo phác đồ cổ điển trước nay: thuốc trung ḥa acid dạ dày, thuốc ức chế tiết acid dạ dày, thuốc bảo vệ niêm mạc dạ dày và các thuốc chữa triệu chứng khác (thuốc giảm co thắt, vitamin, an thần...). Trong phác đồ điều trị loét dạ dày - tá tràng H. Pylori (+), nói chung khi loại bỏ thuốc kháng sinh th́ điều trị này áp dụng cho loét dạ dày - tá tràng H. Pylori (-). BS. ĐẶNG MINH TRÍ * TÁC DỤNG ĐIỀU TRỊ CỦA TRIMÉTAZIDINE VÀ VAS-TAREL Hỏi: Tôi có người bà con cho 2 hộp thuốc Trimétazidine và Vastarel, các hướng dẫn sử dụng thuốc in toàn bằng tiếng Pháp. Tôi không biết loại thuốc nói trên có tác dụng chữa trị bệnh ǵ, liều lượng dùng ra sao? Xin dược sĩ cho một số hướng dẫn. (Lê Thị Hương - B́nh Thuận) Trả lời: Trimétazidine và Vastarel tuy tên khác nhau nhưng cùng là một loại thuốc. Trimétazidine là tên thông thường của hoạt chất c̣n Vastarel là tên biệt dược do công ty Servier sản xuất và đặt tên. Trimétazidine hay Vastarel được dùng trong chuyên khoa tim mạch để điều trị hoặc pḥng ngừa cơn đau thắt ngực do động mạch vành nuôi cơ tim bị chít hẹp. Ngoài ra thuốc c̣n được dùng điều trị hỗ trợ các triệu chứng chóng mặt và ù tai. Đây là thuốc dùng trong điều trị bệnh lư tim mạch, rất cần được bác sĩ chuyên khoa chỉ định, bạn không nên tự ư sử dụng. TS. DS. NGUYỄN HỮU ĐỨC * CÁCH XỬ LƯ KHI BỊ BỤI, CÁT, THUỐC TRỪ SÂU RƠI VÀO MẮT Hỏi: Xin bác sĩ cho biết cách xử lư khi bị bụi, cát, thuốc trừ sâu rơi vào mắt? Dùng kính viễn thị để đọc sách th́ chu kỳ bao lâu phải thay kính mới? Nếu không đổi kính, có hại ǵ cho mắt không? (Vơ Tam Tài - Vĩnh Long) Trả lời: Cách xử lư khi bụi vào mắt: Khi bụi cát rơi vào mắt, không nên dụi mắt hoặc chớp mắt nhiều v́ có thể làm trầy xước giác mạc (tṛng đen). Ta chỉ nên nhắm yên mắt, nước mắt sẽ từ từ đẩy hạt bụi ra góc mắt. Nếu c̣n cộm xốn, có thể rửa mắt với nước muối sinh lư (Natri Clorid, Efticol) hoặc thuốc nhỏ kháng sinh nhẹ (Chloramphenicol, Cloraxin) để rửa trôi bụi. Nếu vẫn c̣n xốn cộm th́ nên đến bác sĩ chuyên khoa mắt để khám xem bụi có ghim vào giác mạc hoặc phía sau mí mắt không (khi đó phải lấy bụi dưới kính hiển vi), hoặc giác mác có bị trầy xước không (phải dùng thuốc nhỏ để tránh nhiễm trùng và làm lành giác mạc). Cách xử lư khi thuốc trừ sâu vào mắt: Nếu thuốc trừ sâu văng vào mắt th́ ngay lập tức phải rửa mắt (với mắt mở) bằng nguồn nước gần nhất (ṿi nước, bồn rửa mặt...) trong khoảng 10 phút rồi đến cơ sở y tế gần nhất để được sơ cứu rửa mắt thêm. Sau đó nên đến bác sĩ chuyên khoa mắt để khám và điều trị nếu có tổn thương mắt. Chu kỳ đổi kính lăo: Ở đa số những người từ 40 tuổi trở lên, sức điều tiết của mắt giảm nên việc nh́n gần khó khăn, phải dùng kính hội tụ (kính lăo, dân gian hay gọi là kính viễn) mới nh́n gần được rơ. Tuổi càng cao, sức điều tiết càng giảm, do đó phải tăng độ hội tụ theo tuổi. Thời gian thay đổi kính tùy theo từng người, không nhất định là bao lâu. Thường phải thay độ kính sau 6 tháng - 1 năm. Nếu bạn cảm thấy mỏi mắt hoặc nh́n mờ với kính hiện tại th́ nên đo lại độ lăo thị để điều chỉnh kính thích hợp. Nếu không dùng kính đúng độ, mắt sẽ mau mỏi khi nh́n gần, có thể dẫn đến nhức đầu, mau buồn ngủ. BS. TRẦN THỊ PHƯƠNG THU * ỐC SÊN VÀ MĂNG TRE CHỮA HEN PHẾ QUẢN Hỏi: Con tôi năm nay 24 tuổi, bị bệnh hen từ nhỏ, đă điều trị bằng nhiều thứ thuốc, trong đó có cả cá ngựa, tắc kè, mật quạ... Bệnh ổn định nhiều năm nhưng nay lại tái phát, chữa măi vẫn chưa cắt hẳn cơn. Theo kinh nghiệm được nêu trong bài "Giá trị chữa bệnh của măng tre" đăng trên báo Nông nghiệp Việt Nam, tôi đă dùng hỗn dịch nước ép măng tre và nước sắc ốc sên để chữa bệnh cho cháu. Ngoài ra c̣n dùng cá ngựa và tắc kè phơi khô, sao vàng nghiền bột cho cháu ăn. Xin bác sĩ cho biết chi tiết về tác dụng dược lư của ốc sên (có tên khoa học là Achtina fulica) và cách chế biến cá ngựa và tắc kè? (Đoàn Phó - Nghệ An) Trả lời: Ốc sên (tên khoa học Achtina fulica), thuộc họ ốc sên (Achatinidae), là động vật thân mềm có vỏ màu hơi vàng nâu, có đầu và một chân tỏa rộng ra đằng sau đầu, phía trước đầu có hai đôi xúc tu (râu). Chúng thường sống ẩn trong các khe, bụi cây, hốc cây... Vào mùa đông ốc sên ngưng hoạt động để tránh lạnh, chúng co ḿnh vào vỏ và tiết ra một màng nhầy bịt kín miệng vỏ lại. Ốc sên là loài động vật lưỡng tính, nghĩa là trong cơ thể vừa có cơ quan sinh dục đực vừa có cơ quan sinh dục cái. Chúng không tự thụ tinh được, đến mùa sinh sản thường ghép đôi để trao đổi tinh trùng cho nhau. Ốc sên đẻ trứng vào hốc đất thành từng đám, vài ba tuần sau trứng nở thành ốc sên con. Ốc sên ăn thực vật, thường phá hoại cây cỏ, hoa màu. Về thành phần hóa học, trong nước ốc sên thủy phân có 0,48% nitơ toàn phần, 0,112% nitơ amin với những acid amin như leuxin, alanin, valin, acid aspartic, acid glutamic, nor - leuxin. Theo y học cổ truyền, ốc sên vị mặn tính lạnh, có công dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi niệu, tiêu thũng. Sách Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam đă viết: "Từ năm 1991, nhân dân một số vùng ở Hải Pḥng, Thái B́nh, Hải Hưng thường bắt về nấu ăn chữa hen suyễn". Trong Nam dược thần hiệu, danh y Tuệ Tĩnh cũng viết: "Oa ngưu - ốc sên, vị mặn, tính hàn, hơi độc, trơn mềm, trị trúng phong méo miệng, kinh giản giật rút, bị rết cắn, thũng độc điều trị được cả". Hải Thượng Lăn Ông trong Lĩnh Nam bản thảo đă ghi nhận: "Oa ngưu tục gọi là con sên, Mặn, lạnh, hơi độc, tính trơn mềm, Phong tà méo lệch, kinh co rút, Rết cắn, độc sưng đều chữa yên". Ở Trung Quốc, người ta dùng loài Oa ngưu - Eulota peliomphala Pfr. làm thuốc trị phong nhiệt kinh giản, tiêu khát, đau họng, bệnh quai bị, tràng nhạc, ung thũng, lở trĩ, thoát giang và rết cắn. Về cách dùng, có thể sắc, giă lấy nước hoặc phơi khô tán bột uống trong; Giă hoặc phơi khô tán bột bôi ngoài; Ở một số nơi người ta c̣n dùng ốc sên để chế biến thành các món ăn. Trong y học cổ truyền, nước ép măng tre được gọi là Trúc lịch, cũng có vị đắng tính lạnh, công dụng thanh nhiệt hoạt đàm, trấn kinh lợi khiếu, thường được dùng để chữa các bệnh do phong đàm, nhiệt đàm gây nên, trong đó có chứng khái nghịch đoản khí mà y học hiện đại gọi là hen phế quản. Tuy nhiên, theo lư luận về hàn nhiệt của y học cổ truyền, v́ ốc sên và trúc lịch đều có tính lạnh nên chỉ được dùng cho hen phế quản thuộc thể nhiệt, biểu hiện bởi các triệu chứng như: bệnh thường tái phát vào mùa hè, có sốt, khó thở, ho khạc đờm vàng, miệng khô họng rát, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ..., y học hiện đại thường gọi là hen phế quản do nhiễm khuẩn. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là những kinh nghiệm dân gian chưa được chứng minh bằng các công tŕnh nghiên cứu khoa học. Tắc kè và cá ngựa cũng là những vị thuốc Đông y thường được dùng để chữa hen phế quản. Có nhiều cách dùng, trong đó h́nh thức sấy khô vàng, tán bột uống là tiện dụng hơn cả. Liều lượng mỗi thứ từ 1-3g/ngày. THẠC SĨ HOÀNG KHÁNH TOÀN * BỐN NHÓM THỨC ĂN CẦN THIẾT CHO TRẺ Hỏi: Tôi có một bé trai được 5 tháng tuổi. Khi nấu ăn cho cháu, hàng ngày tôi đều thay đổi món (cá, tôm, thịt lợn, thịt ḅ, tim, bầu dục, thịt gà...), 3 bữa chính là cháo, ngoài ra c̣n có nước cam, chuối, sữa. Xin bác sĩ cho biết như thế đă thích hợp chưa? (Thành Tôn - Cần Thơ) Trả lời: Trẻ từ 5 tháng tuổi trở đi, ngoài sữa mẹ cần cung cấp thêm 4 nhóm thức ăn cần thiết cho sự phát triển, đó là: 1. Nhóm lương thực (gạo, ngô, khoai, sắn, bột ḿ, bánh ḿ...), là thành phần chủ yếu của bữa ăn nhưng chỉ cung cấp được nửa lượng chất dinh dưỡng cần thiết; 2. Nhóm giàu đạm (các loại thịt, cá, tôm, cua, trứng..., các loại đậu đỗ như đậu tương, đậu Hà Lan, đậu đũa...), giúp trẻ mau lớn, cơ thể mạnh khỏe; 3. Nhóm rau quả cung cấp vitamin (chống bệnh tật), chất xơ (giúp chống táo bón), chất kháng sinh... Hàng ngày nên cho trẻ ăn chất ngọt từ trái cây v́ trong trái cây có cả đường, vitamin và khoáng chất. Không nên cho trẻ ăn nhiều bánh kẹo, các loại nước ngọt pha chế sẵn v́ có hại cho răng. 4. Nhóm giàu năng lượng (mỡ, bơ, dầu ô liu, dầu đậu nành, các loại hạt có dầu như lạc, vừng...), cần thiết cho hoạt động của cơ thể. Trẻ từ 13-24 tháng, mỗi ngày cần ăn 3 bát cháo đặc. Như vậy chị đă cung cấp cho cháu đủ 4 nhóm thức ăn cần thiết. BS. ĐÀO XUÂN DŨNG |